Đang tải bài viết…
Đang tải bài viết…
Ẩn mình giữa vùng núi Nho Quan, Đan viện Xitô Thánh Mẫu Châu Sơn là một trong những cộng đoàn đan tu lâu đời và đặc biệt của Giáo phận Phát Diệm. Được khai sinh năm 1936 từ hành trình của cha Anselmô Lê Hữu Từ cùng 12 tu sĩ, Châu Sơn không chỉ được biết đến bởi ngôi thánh đường Gothic bằng gạch đỏ giữa núi rừng Ninh Bình, mà trước hết là một đan viện vẫn duy trì đời sống chiêm niệm theo Tu luật Thánh Biển Đức và truyền thống Dòng Xitô.
Câu chuyện của Châu Sơn không bắt đầu tại Ninh Bình.
Nguồn gốc của cộng đoàn gắn với Đan viện Phước Sơn ở miền Trung và với một nhân vật sau này có vị trí đặc biệt trong lịch sử Giáo phận Phát Diệm: Anselmô Tađêô Lê Hữu Từ.
Ngài sinh cuối thế kỷ XIX tại Di Loan, Quảng Trị, từng theo con đường đào tạo linh mục triều trước khi lựa chọn đời sống đan tu tại Phước Sơn.
Năm 1928, ngài được thụ phong linh mục.
Đầu năm 1936, một bước ngoặt mới xuất hiện khi cha Anselmô Lê Hữu Từ tình nguyện cùng 12 tu sĩ lên miền Bắc để thành lập một cộng đoàn đan tu mới trong địa phận Phát Diệm.
Điểm đến là vùng núi Nho Quan.
Khi ấy nơi đây còn là một miền đất hoang vu, nhiều sỏi đá và điều kiện sinh sống khó khăn. Những tu sĩ đầu tiên phải vừa xây dựng đời sống cộng đoàn, vừa lao động để cải tạo vùng đất.
Ngày 08 tháng 9 năm 1936, cha Anselmô Lê Hữu Từ chủ sự Thánh lễ đánh dấu sự khai sinh của Đan viện Thánh Mẫu Châu Sơn.
Từ đó, một cộng đoàn Xitô bắt đầu bén rễ giữa vùng núi Ninh Bình.
Đời sống của Châu Sơn được xây dựng trên tinh thần của Tu luật Thánh Biển Đức và truyền thống Xitô.
Cầu nguyện không tách khỏi lao động.
Lao động cũng không đơn thuần nhằm tạo ra của cải, mà trở thành một phần trong đời sống của người đan sĩ.
Những thế hệ đầu tiên đã trực tiếp khai phá đất đai, làm vườn, chăn nuôi và xây dựng nơi ở.
Chính trong hoàn cảnh ấy, một vùng đất ban đầu còn hoang vắng dần trở thành một đan viện.
Nhịp sống ấy vẫn tiếp tục cho đến ngày nay.
Mỗi ngày cộng đoàn quy tụ nhiều lần để cử hành các giờ kinh phụng vụ. Xen giữa những giờ cầu nguyện là thời gian dành cho lao động, học tập và những công việc của cộng đoàn.
Sự thinh lặng vì thế không phải là khoảng trống của Châu Sơn.
Đó là một phần của đời sống đan tu.
Nếu đời sống đan tu là phần bên trong của Châu Sơn thì ngôi thánh đường bằng gạch đỏ là hình ảnh khiến nhiều người nhận ra nơi này từ bên ngoài.
Công trình được xây dựng từ cuối thập niên 1930.
Người có vai trò đặc biệt trong việc hình thành thiết kế là cha Placiđô Trương Minh Trạch.
Dù không phải một kiến trúc sư được đào tạo chuyên nghiệp, ngài tự nghiên cứu kiến trúc và cùng cộng đoàn tạo nên một công trình mang đường nét Gothic nổi bật giữa núi rừng Nho Quan.
Các đan sĩ trực tiếp tham gia nhiều công đoạn xây dựng.
Họ chẻ đá, nung vôi, làm gạch và thực hiện những công việc thủ công trong điều kiện kỹ thuật còn rất hạn chế.
Điểm dễ nhận biết nhất của thánh đường là những bức tường gạch đỏ để mộc.
Không có lớp vữa phủ bên ngoài, màu gạch theo thời gian chuyển sang sắc đỏ trầm, nổi bật giữa những mảng xanh của cây cối.
Các vòm cao, hệ thống cửa và tỷ lệ kéo dài theo chiều đứng tạo cảm giác hướng lên, một đặc trưng thường gặp của kiến trúc Gothic.
Nhưng vẻ đẹp của thánh đường Châu Sơn không nằm ở sự cầu kỳ.
Chính vật liệu giản dị, ánh sáng, những mảng tường dày và không gian tĩnh lặng đã tạo nên nét riêng của công trình.
Câu chuyện xây dựng thánh đường cũng phản ánh khá rõ tinh thần của Châu Sơn.
Các đan sĩ không chỉ là những người sử dụng công trình sau khi hoàn thành.
Họ tham gia trực tiếp vào việc kiến tạo nó.
Từ việc chuẩn bị vật liệu đến những công việc xây dựng thủ công, lao động của cộng đoàn đã trở thành một phần của ngôi thánh đường.
Bởi vậy, nhìn những bức tường gạch đỏ hôm nay cũng là nhìn thấy dấu vết của một giai đoạn mà đời sống đan tu, lao động và kiến trúc gần như hòa làm một.
Ngôi thánh đường dần trở thành trung tâm của cộng đoàn.
Tiếng chuông và những giờ kinh của các đan sĩ bắt đầu vang lên giữa vùng núi vốn từng rất thưa người.
Một không gian đan tu hình thành từ đó.
Lịch sử Châu Sơn còn gắn với một bước ngoặt lớn của Giáo phận Phát Diệm.
Năm 1945, khi đang là Bề trên Đan viện Châu Sơn, cha Anselmô Lê Hữu Từ được Tòa Thánh bổ nhiệm làm Giám mục Chính tòa Giáo phận Phát Diệm.
Từ một đan sĩ sống đời chiêm niệm giữa núi rừng, ngài bước vào một trách nhiệm hoàn toàn khác đối với Giáo phận.
Tên tuổi Đức cha Anselmô Lê Hữu Từ từ đó không chỉ gắn với Châu Sơn mà còn trở thành một phần của lịch sử Công giáo Phát Diệm trong một giai đoạn đầy biến động của đất nước.
Nhưng cộng đoàn Châu Sơn cũng sắp bước vào chính những biến động ấy.
Sau năm 1954, phần lớn cộng đoàn Châu Sơn di chuyển vào miền Nam.
Hành trình ấy cuối cùng đưa các đan sĩ đến Đơn Dương, Lâm Đồng và hình thành một cộng đoàn Châu Sơn khác.
Đây là lý do ngày nay tại Việt Nam có hai địa danh rất dễ nhầm:
Đan viện Châu Sơn Nho Quan – Ninh Bình và Đan viện Châu Sơn Đơn Dương – Lâm Đồng.
Hai nơi có chung nguồn gốc lịch sử nhưng là hai cộng đoàn và hai địa điểm khác nhau.
Trong khi cộng đoàn di cư tiếp tục đời sống đan tu tại miền Nam, Châu Sơn tại Ninh Bình trải qua một thời kỳ rất khó khăn.
Đời sống cộng đoàn có lúc gần như tan rã.
Nhưng đan viện vẫn tồn tại.
Qua thời gian, các thế hệ đan sĩ tiếp tục duy trì đời sống cầu nguyện và từng bước xây dựng lại cộng đoàn.
Dù là một đan viện chiêm niệm, Châu Sơn không hoàn toàn tách khỏi đời sống Công giáo chung quanh.
Trong nhiều giai đoạn khó khăn của các giáo xứ vùng Nho Quan, đan viện trở thành nơi giáo dân tìm đến tham dự Thánh lễ.
Từ năm 1961 đến 1994, Giáo xứ Vô Hốt còn được giao cho Đan viện Châu Sơn coi sóc.
Các đan sĩ linh mục của Châu Sơn đã phục vụ cộng đoàn Công giáo địa phương trong nhiều thập niên.
Những giáo dân thuộc các họ đạo chung quanh khi chưa có điều kiện cử hành Thánh lễ thường tìm đến Châu Sơn.
Nhờ đó, lịch sử đan viện không chỉ nằm bên trong những bức tường của nhà dòng.
Châu Sơn còn trở thành một phần của lịch sử Công giáo vùng Nho Quan.
Qua nhiều thập niên, khuôn viên Châu Sơn tiếp tục được hoàn thiện.
Bên cạnh thánh đường là khu nhà đan sĩ, vườn cây, hồ nước, các khoảng xanh và những không gian dành cho cầu nguyện.
Vườn Cầu nguyện Fatima là một trong những khu vực được nhiều người biết đến.
Cây xanh, mặt nước, tượng và những lối đi được bố trí giữa cảnh quan tương đối yên tĩnh.
Nhưng cần hiểu rằng những không gian này trước hết được hình thành trong môi trường của một đan viện.
Châu Sơn không được xây dựng như một khu du lịch.
Đây vẫn là nơi sinh sống, cầu nguyện và lao động của một cộng đoàn đan sĩ.
Chính điều đó tạo nên sự khác biệt giữa Châu Sơn và nhiều điểm tham quan nổi tiếng khác của Ninh Bình.
Những năm gần đây, hình ảnh thánh đường gạch đỏ giữa những hàng cây khiến Đan viện Châu Sơn ngày càng được biết đến rộng rãi.
Nhiều người tìm đến vì kiến trúc.
Có người đến để chụp ảnh.
Có người muốn tìm một khoảng không gian yên tĩnh giữa hành trình khám phá Ninh Bình.
Nhưng nếu chỉ nhìn Châu Sơn như một công trình đẹp thì vẫn chưa đủ.
Đằng sau những bức tường gạch là một cộng đoàn đang sống.
Những giờ kinh vẫn được cử hành mỗi ngày.
Các đan sĩ vẫn lao động.
Những khu vực riêng vẫn cần được giữ gìn cho đời sống đan tu.
Vì thế, người đến Châu Sơn cần tôn trọng sự thinh lặng, trang phục phù hợp, không làm ảnh hưởng đến giờ cầu nguyện và không tự ý đi vào những khu vực dành riêng cho cộng đoàn.
Đó không chỉ là phép lịch sự khi tham quan một công trình tôn giáo.
Đó còn là cách tôn trọng bản chất thực sự của nơi mình đang đến.
Đan viện ngày nay nằm tại vùng Phú Sơn, Ninh Bình, giữa không gian có nhiều cây xanh và núi đá đặc trưng của khu vực Nho Quan.
Trong địa chỉ trước đây, nơi này được ghi là thôn 4, xã Phú Sơn, huyện Nho Quan, tỉnh Ninh Bình.
Vị trí tương đối biệt lập từng gây nhiều khó khăn cho những thế hệ đầu tiên.
Nhưng chính sự tách biệt ấy lại phù hợp với đời sống chiêm niệm.
Giữa một Ninh Bình ngày càng được biết đến với Tràng An, Tam Cốc, Bái Đính, Cúc Phương và nhiều điểm đến đông khách, Châu Sơn vẫn mang một nhịp sống khác.
Chậm hơn.
Yên hơn.
Và được tổ chức chung quanh cầu nguyện, lao động và đời sống cộng đoàn.
Từ năm 1936 đến nay, Châu Sơn đã trải qua gần một thế kỷ.
Từ 12 tu sĩ đi tìm một vùng đất mới.
Từ những ngày khai phá núi rừng.
Từ những viên gạch được làm và xếp lên bằng sức lao động của cộng đoàn.
Rồi chiến tranh, chia cắt, di cư và những năm tháng tưởng như cộng đoàn khó có thể tiếp tục.
Châu Sơn vẫn còn đó.
Ngôi thánh đường gạch đỏ ngày nay có thể là điều đầu tiên khiến một người tìm đến.
Nhưng giá trị sâu hơn của Châu Sơn nằm ở một điều ít nhìn thấy hơn: một nếp sống đã được duy trì qua nhiều thế hệ.
Giữa núi rừng Ninh Bình, tiếng kinh của các đan sĩ vẫn tiếp tục vang lên mỗi ngày.
Đó mới là câu chuyện dài nhất của Đan viện Xitô Thánh Mẫu Châu Sơn.
Tên chính thức: Đan viện Xitô Thánh Mẫu Châu Sơn
Tên thường gọi: Đan viện Châu Sơn
Tên phân biệt: Đan viện Châu Sơn Nho Quan
Loại hình: Đan viện Công giáo – cộng đoàn đan tu chiêm niệm
Dòng tu: Dòng Xitô
Linh đạo: Theo Tu luật Thánh Biển Đức và truyền thống Xitô – cầu nguyện và lao động
Địa phận Công giáo: Giáo phận Phát Diệm
Khai sinh Đan viện: 08/09/1936
Người có vai trò sáng lập: Cha Anselmô Tađêô Lê Hữu Từ cùng 12 tu sĩ
Xây dựng thánh đường: Từ cuối thập niên 1930
Người có vai trò thiết kế thánh đường: Cha Placiđô Trương Minh Trạch
Kiến trúc: Mang đường nét Gothic, nổi bật với kết cấu gạch đỏ để mộc
Địa chỉ hiện nay: Xã Phú Sơn, tỉnh Ninh Bình
Địa chỉ trước đây: Thôn 4, xã Phú Sơn, huyện Nho Quan, tỉnh Ninh Bình
Lưu ý: Đây là đan viện đang hoạt động, không phải giáo xứ hay khu du lịch; khách đến cần tôn trọng giờ sinh hoạt và những khu vực riêng của cộng đoàn.

Chành xe Tô Châu – 215A Quốc lộ 80, Hòa Long, Đồng Tháp
215A Quốc Lộ 80, Xã Hòa Long, Tỉnh Đồng Tháp

Chành xe Tô Châu – 325 Đường 3/2, Lấp Vò, Đồng Tháp
325 Đường 3/2, Khóm Bình Thạnh 1, Xã Lấp Vò, Tỉnh Đồng Tháp

Chành xe Tô Châu – 698 Hùng Vương, Ngã Bảy, Cần Thơ
698 Hùng Vương, Phường Ngã Bảy, Thành phố Cần Thơ

Chành xe Tô Châu – 24 Ngô Quốc Trị, Vị Tân, Cần Thơ
24 Đường Ngô Quốc Trị, Phường Vị Tân, Thành phố Cần Thơ

Chành xe Tô Châu – QL61B, Long Mỹ, Cần Thơ
Đường tránh về Ngã Năm, Quốc lộ 61B, Khu vực 6, Phường Long Mỹ, Thành phố Cần Thơ

Giáo xứ Hải Dương – Giáo hạt Hải Dương, Giáo phận Hải Phòng
Nằm tại số 100 Trần Hưng Đạo, Giáo xứ Hải Dương thuộc Giáo hạt Hải Dương, Giáo phận Hải Phòng là một cộng đoàn Công giáo lâu đời giữa vùng đất Hải Dương. Ngôi nhà thờ được ghi nhận xây dựng từ năm 1875, hiện diện giữa khu vực trung tâm đô thị và gắn với một vùng đất có vị trí đặc biệt trong lịch sử Công giáo miền Đông Bắc. Không xa nhà thờ là Đền Thánh Tử Đạo Hải Dương, nơi lưu dấu cuộc tử đạo năm 1861 của các chứng nhân đức tin sau này được Giáo hội tuyên phong hiển thánh.

Giáo xứ Hàng Kênh – Giáo hạt Chính Tòa, Giáo phận Hải Phòng
Giữa khu vực nội thành Hải Phòng, trên trục đường Lạch Tray đông đúc, Giáo xứ Hàng Kênh thuộc Giáo hạt Chính Tòa, Giáo phận Hải Phòng là một cộng đoàn Công giáo có lịch sử hơn một thế kỷ. Hàng Kênh được thành lập với tư cách giáo họ từ năm 1893, từng trực thuộc Giáo xứ Nam Pháp trước khi chính thức được nâng lên hàng giáo xứ năm 2020. Từ một giáo họ lâu đời giữa lòng thành phố, Hàng Kênh ngày nay vừa phục vụ cộng đoàn địa phương, vừa trở thành điểm quy tụ của nhiều người Công giáo từ các nơi đến Hải Phòng sinh sống và làm việc.

Giáo xứ Truyền Tin – Giáo hạt Tân Thạnh, Giáo phận Long Xuyên
Giữa vùng đồng bằng được nhận diện bằng những con kinh mang số, Giáo xứ Truyền Tin nằm bên Kinh 8A, thuộc Giáo hạt Tân Thạnh, Giáo phận Long Xuyên. Trước đây, địa chỉ quen thuộc của nhà thờ là Thạnh Đông A, huyện Tân Hiệp, tỉnh Kiên Giang; sau thay đổi địa giới hành chính, khu vực này thuộc xã Thạnh Đông, tỉnh An Giang. Tên gọi Kinh 8A vẫn còn đó, gắn nhà thờ với một không gian rất đặc trưng của miền Tây: những con kinh thẳng dài, ruộng lúa và các xóm dân cư hình thành dọc hai bên bờ nước.

Đỉnh Tầm Bồ – điểm cao giữa rừng Bình Châu – Phước Bửu
Giữa một vùng ven biển vốn được hình dung bằng những bãi cát thấp và Biển Đông, Khu bảo tồn thiên nhiên Bình Châu – Phước Bửu còn có những điểm địa hình cao hơn nằm trong rừng. Tầm Bồ là một trong số đó. Với độ cao khoảng 114 m, nơi đây không phải một ngọn núi lớn, nhưng đủ để mở ra một góc nhìn khác về vùng đất: từ rừng nhìn về phía dải biển Hồ Cốc – Hồ Tràm.Câu chuyện của Tầm Bồ vì thế không nằm ở độ cao. Điều đáng chú ý là vị trí của một điểm cao giữa khu rừng tự nhiên nằm rất gần biển.

Cửa Bình Châu – nơi làng biển mở ra Biển Đông
Ở phía biển của Bình Châu có một khoảng cửa nước nối không gian phía trong với Biển Đông. Trên bản đồ địa danh biển Việt Nam, nơi này mang tên Cửa Bình Châu. Gần đó là Đầm Bình Châu, cảng cá, khu neo đậu tàu thuyền và những công trình phục vụ hoạt động nghề biển.

Aultmore Distillery – Nhà chưng cất whisky giữa vùng Foggie Moss, Speyside, Scotland
Aultmore Distillery là nhà chưng cất Scotch whisky nằm gần thị trấn Keith, thuộc vùng Speyside của Scotland. Được Alexander Edward thành lập và bắt đầu sản xuất năm 1897, Aultmore đã tồn tại hơn 125 năm giữa một khu vực từ lâu gắn với nghề chưng cất whisky.

The Glenrothes Distillery – Nhà chưng cất Speyside từ năm 1879 tại Rothes, Scotland
The Glenrothes Distillery là nhà chưng cất Single Malt Scotch Whisky nằm tại Rothes, Moray, Scotland, ngay trung tâm vùng whisky Speyside. Được thành lập năm 1879, nhà chưng cất trải qua gần 150 năm phát triển và ngày nay là một trong những tên tuổi lâu đời gắn với thị trấn Rothes.

Stirling Distillery – Khi whisky trở lại dưới chân lâu đài Stirling sau hơn 170 năm
Ngay dưới chân Stirling Castle, giữa khu phố cổ mang đậm dấu ấn lịch sử Scotland, một nhà chưng cất nhỏ đang viết tiếp câu chuyện từng bị gián đoạn hơn một thế kỷ. Stirling Distillery không có quy mô lớn, nhưng vị trí, lịch sử và hành trình đưa whisky trở lại thành phố Stirling khiến nơi đây trở thành một điểm đáng chú ý trên bản đồ whisky Scotland.

Kininvie Distillery – Nhà chưng cất Speyside kín tiếng của William Grant & Sons
Kininvie Distillery là nhà chưng cất Single Malt Scotch Whisky nằm tại Dufftown, Moray, Scotland, thuộc vùng whisky Speyside. Được William Grant & Sons xây dựng năm 1990, Kininvie có vị trí đặc biệt khi nằm ngay trong khu vực của The Balvenie Distillery và gần Glenfiddich – hai nhà chưng cất nổi tiếng cùng thuộc tập đoàn gia đình William Grant & Sons.

Auchentoshan Distillery – Nhà chưng cất whisky Lowland hơn 200 năm bên Glasgow, Scotland
Auchentoshan Distillery là nhà chưng cất Scotch whisky nằm tại Clydebank, ở phía tây bắc Glasgow, Scotland. Nhà chưng cất có lịch sử chính thức từ năm 1823 và ngày nay được biết đến đặc biệt với phương pháp chưng cất ba lần – Triple Distillation, tạo nên phong cách nhẹ, tươi và mềm mại đặc trưng của Auchentoshan Single Malt Scotch Whisky.

Nằm tại số 100 Trần Hưng Đạo, Giáo xứ Hải Dương thuộc Giáo hạt Hải Dương, Giáo phận Hải Phòng là một cộng đoàn Công giáo lâu đời giữa vùng đất Hải Dương. Ngôi nhà thờ được ghi nhận xây dựng từ năm 1875, hiện diện giữa khu vực trung tâm đô thị và gắn với một vùng đất có vị trí đặc biệt trong lịch sử Công giáo miền Đông Bắc. Không xa nhà thờ là Đền Thánh Tử Đạo Hải Dương, nơi lưu dấu cuộc tử đạo năm 1861 của các chứng nhân đức tin sau này được Giáo hội tuyên phong hiển thánh.

Giữa khu vực nội thành Hải Phòng, trên trục đường Lạch Tray đông đúc, Giáo xứ Hàng Kênh thuộc Giáo hạt Chính Tòa, Giáo phận Hải Phòng là một cộng đoàn Công giáo có lịch sử hơn một thế kỷ. Hàng Kênh được thành lập với tư cách giáo họ từ năm 1893, từng trực thuộc Giáo xứ Nam Pháp trước khi chính thức được nâng lên hàng giáo xứ năm 2020. Từ một giáo họ lâu đời giữa lòng thành phố, Hàng Kênh ngày nay vừa phục vụ cộng đoàn địa phương, vừa trở thành điểm quy tụ của nhiều người Công giáo từ các nơi đến Hải Phòng sinh sống và làm việc.

Giữa vùng đồng bằng được nhận diện bằng những con kinh mang số, Giáo xứ Truyền Tin nằm bên Kinh 8A, thuộc Giáo hạt Tân Thạnh, Giáo phận Long Xuyên. Trước đây, địa chỉ quen thuộc của nhà thờ là Thạnh Đông A, huyện Tân Hiệp, tỉnh Kiên Giang; sau thay đổi địa giới hành chính, khu vực này thuộc xã Thạnh Đông, tỉnh An Giang. Tên gọi Kinh 8A vẫn còn đó, gắn nhà thờ với một không gian rất đặc trưng của miền Tây: những con kinh thẳng dài, ruộng lúa và các xóm dân cư hình thành dọc hai bên bờ nước.

Giữa một vùng ven biển vốn được hình dung bằng những bãi cát thấp và Biển Đông, Khu bảo tồn thiên nhiên Bình Châu – Phước Bửu còn có những điểm địa hình cao hơn nằm trong rừng. Tầm Bồ là một trong số đó. Với độ cao khoảng 114 m, nơi đây không phải một ngọn núi lớn, nhưng đủ để mở ra một góc nhìn khác về vùng đất: từ rừng nhìn về phía dải biển Hồ Cốc – Hồ Tràm.Câu chuyện của Tầm Bồ vì thế không nằm ở độ cao. Điều đáng chú ý là vị trí của một điểm cao giữa khu rừng tự nhiên nằm rất gần biển.

Ở phía biển của Bình Châu có một khoảng cửa nước nối không gian phía trong với Biển Đông. Trên bản đồ địa danh biển Việt Nam, nơi này mang tên Cửa Bình Châu. Gần đó là Đầm Bình Châu, cảng cá, khu neo đậu tàu thuyền và những công trình phục vụ hoạt động nghề biển.

Trên hành trình từ vùng đất phía trong Đông Nam Bộ về cửa biển Lộc An, sông Ray đi qua một công trình đã làm thay đổi đáng kể cảnh quan và vai trò của dòng nước: Hồ Sông Ray. Với dung tích hơn 215 triệu m³, đây không đơn thuần là một mặt hồ rộng giữa vùng nông nghiệp mà là một hồ chứa có vai trò quan trọng đối với nguồn nước của cả khu vực.

Trước khi gặp Biển Đông tại Lộc An, nước của sông Ray đã đi qua một hành trình dài từ vùng đất phía trong của Đông Nam Bộ. Dòng sông đi qua địa bàn Đồng Nai, tiếp tục chảy về phía nam, qua hồ chứa Sông Ray rồi cuối cùng mở ra vùng cửa biển Lộc An. Nếu nhìn Lộc An từ phía biển, sông Ray là dòng nước đi đến điểm kết thúc; nhưng nếu lần ngược dòng, đó lại là một câu chuyện kéo dài qua nhiều vùng đất.

Ở phía biển của xã Bình Châu, những con tàu đánh cá, bến neo đậu và hoạt động mua bán thủy sản tạo nên một diện mạo rất khác với rừng hay suối khoáng nóng thường được nhắc đến khi nói về vùng đất này. Nơi người dân quen gọi là Cảng cá Bình Châu cũng gắn với tên Bến Lội trong các tài liệu quản lý nghề cá, lưu giữ một phần đời sống biển đã hình thành và tiếp diễn qua nhiều năm.

Giữa vùng rừng ven biển Bình Châu, có một hiện tượng tự nhiên đã khiến tên Bình Châu được biết đến từ rất lâu trước khi những khu nghỉ dưỡng hiện đại xuất hiện: nước nóng từ lòng đất. Hàng chục điểm nước khoáng nóng lộ thiên, có nơi đạt nhiệt độ khoảng 80°C, tạo nên một không gian đặc biệt giữa rừng, cách Biển Đông không xa.