Đang tải bài viết…
Đang tải bài viết…
Giữa vùng đất Cái Nhum của miền Tây Nam Bộ, Dòng Kitô Vua đã hiện diện hơn một thế kỷ rưỡi với một căn tính khá đặc biệt: một Hội dòng nam hình thành ngay trên đất Việt Nam, phát triển từ truyền thống các Thầy Giảng và gắn sứ vụ của mình với việc trợ giúp hàng giáo sĩ trong công cuộc truyền giáo. Từ Cái Nhum, bước chân của các tu sĩ Dòng Kitô Vua từng đi đến nhiều vùng đất xa xôi, góp phần dạy giáo lý, mở trường, giúp các họ đạo và hình thành những cộng đoàn Công giáo mới.
Nguồn gốc của Dòng Kitô Vua gắn với truyền thống Thầy Giảng đã xuất hiện trong công cuộc truyền giáo tại Việt Nam từ nhiều thế kỷ trước.
Khi số tín hữu ngày càng đông nhưng số linh mục còn ít, các nhà truyền giáo cần những người Việt có khả năng đồng hành với cộng đoàn, dạy giáo lý, hướng dẫn kinh nguyện và hỗ trợ việc truyền giáo. Những Thầy Giảng vì thế trở thành một lực lượng quan trọng trong đời sống Công giáo Việt Nam.
Tại vùng Cái Nhum, năm 1870, hai linh mục thuộc Hội Thừa sai Paris là cha Gernot Quí và cha Ritter Giáo đã tổ chức các Thầy Giảng thành một cộng đoàn có đời sống quy củ. Đây được xem là dấu mốc hình thành Dòng Kitô Vua ngày nay.
Căn tính ấy tạo nên một nét riêng của Hội dòng. Thay vì được du nhập nguyên vẹn từ một dòng tu có nguồn gốc châu Âu, Dòng Kitô Vua lớn lên từ chính nhu cầu truyền giáo và đời sống của Giáo hội tại Việt Nam.
Lịch sử của Dòng Kitô Vua gắn chặt với Cái Nhum, một vùng đất Công giáo lâu đời của khu vực Chợ Lách.
Nhà Mẹ ngày nay nằm trong một khuôn viên rộng, nơi tập trung đời sống và những hoạt động chính của Hội dòng. Trong khuôn viên vẫn còn những công trình mang dấu ấn của nhiều giai đoạn lịch sử.
Đáng chú ý là dãy Nhà Khấn được xây dựng từ năm 1907, sau khi Nhà dòng chuyển từ An Đức – Mỹ Tho về đây. Công trình có kết cấu ba tầng, tường gạch dày, mái ngói và hệ thống sàn, cầu thang bằng gỗ, phản ánh một lớp kiến trúc tu viện hình thành từ đầu thế kỷ XX.
Nằm giữa khuôn viên là Nhà nguyện của Dòng, được xây dựng năm 1953 theo kiến trúc mang ảnh hưởng Pháp. Nhà nguyện dài khoảng 24 m, rộng 12 m, với tháp chuông cao khoảng 18 m.
Những công trình ấy khiến Nhà Mẹ Cái Nhum không chỉ là nơi sinh hoạt của một Hội dòng, mà còn lưu giữ những lớp ký ức về đời sống Công giáo trên vùng đất này qua hơn một thế kỷ.
Quá trình phát triển của Hội dòng cũng trải qua nhiều lần kiện toàn về tổ chức.
Ngày 24 tháng 1 năm 1924, tổ chức Thầy Giảng Cái Nhum được Thánh bộ Truyền giáo chính thức công nhận với danh hiệu Hội Dòng Sư Huynh Giáo Lý Công Giáo.
Một dấu mốc khác xuất hiện vào đầu thập niên 1950. Do nhu cầu mục vụ và cử hành các Bí tích trong Hội dòng, Tòa Thánh cho phép Hội dòng có thành viên lãnh nhận chức linh mục. Năm 1953, thầy Bề trên Michel Nguyễn Văn Lực được Đức cha Phêrô Ngô Đình Thục truyền chức linh mục.
Sau đó, cha Michel Nguyễn Văn Lực triệu tập Đại hội toàn Dòng, tu chính Hiến pháp và lấy tước hiệu Chúa Kitô Vua làm danh hiệu mới. Từ đây, Hội dòng được gọi là Dòng Sư Huynh Giáo Lý Kitô Vua, thường gọi ngắn gọn là Dòng Kitô Vua.
Bổn mạng của Hội dòng là lễ Chúa Kitô Vua Vũ Trụ.
Điểm đặc biệt trong lịch sử Dòng Kitô Vua nằm ở sứ vụ của các tu sĩ.
Đặc sủng của Hội dòng được xác định là trợ giúp hàng giáo sĩ trong việc truyền giáo, trong đó dạy giáo lý giữ một vị trí quan trọng. Vì vậy, các tu sĩ Dòng Kitô Vua từng được biết đến với hình ảnh những Thầy Giáo lý Cái Nhum.
Các Thầy được sai đến những họ đạo còn thiếu nhân sự, những vùng xa xôi hoặc những nơi chưa hình thành cộng đoàn Công giáo ổn định. Công việc có thể bắt đầu từ dạy chữ cho trẻ em nghèo, dạy giáo lý, tập hát cho ca đoàn, giúp sinh hoạt giáo xứ rồi từng bước đồng hành với người dân địa phương.
Từ những hoạt động âm thầm ấy, các tu sĩ của Dòng đã góp phần vào quá trình hình thành nhiều họ đạo tại nhiều vùng khác nhau.
Một trong những nhân vật được Hội dòng nhắc đến là Thầy Dominique Nguyễn Văn Vinh, người được ghi nhận đã góp phần thành lập 17 họ đạo mới. Tại Đa Lộc thuộc Giáo phận Đà Lạt, dấu chân của Thầy Anrê Nguyễn Văn Mừng cũng còn được ghi lại trong lịch sử hình thành cộng đoàn nơi đây.
Từ Cái Nhum, các Thầy đã đi đến nhiều vùng thuộc Nam Bộ và cao nguyên, để lại dấu ấn trong những cộng đoàn Công giáo mà ngày nay đôi khi ít người còn biết đến vai trò của những Thầy Giảng thuở ban đầu.
Trong những thập niên 1950 và 1960, Dòng Kitô Vua bước vào giai đoạn phát triển đáng kể về nhân sự và cơ sở.
Nhà Mẹ tại Cái Nhum được mở rộng. Hội dòng đồng thời xây dựng thêm trường học và các cộng đoàn tại nhiều địa phương. Cơ sở Thánh Tâm tại Sài Gòn được hình thành từ năm 1951 và về sau trở thành một trong những cơ sở quan trọng của Dòng.
Tại Vĩnh Long, Hội dòng cũng hình thành cơ sở Fatima. Những cơ sở này vừa đáp ứng nhu cầu đào tạo tu sĩ, vừa mở rộng hoạt động giáo dục và truyền giáo.
Có thời điểm Nhà Mẹ Cái Nhum quy tụ một cộng đoàn rất đông, khiến khuôn viên phải liên tục được mở rộng để đáp ứng nhu cầu sinh hoạt, đào tạo và đời sống tu trì.
Những biến động sau năm 1975 khiến hoạt động của Dòng cũng trải qua nhiều thay đổi. Một số cơ sở giáo dục không còn tiếp tục hoạt động như trước, nhân sự phân tán và điều kiện sinh hoạt của Hội dòng có những giai đoạn khó khăn.
Tuy nhiên, Nhà Mẹ Cái Nhum vẫn được duy trì và tiếp tục là trung tâm của Dòng Kitô Vua.
Một điều khá đặc biệt là Nhà nguyện trong khuôn viên Nhà Mẹ, vốn trước năm 1975 chủ yếu dành cho đời sống phụng vụ của các tu sĩ, về sau cũng trở thành nơi giáo dân khu vực xung quanh đến tham dự Thánh lễ. Vì vậy, trong đời sống địa phương, Nhà Mẹ không hoàn toàn tách biệt khỏi cộng đồng dân cư mà có sự gắn bó với đời sống đức tin của bà con quanh vùng.
Ngày nay, Dòng Kitô Vua vẫn tiếp tục đặc sủng truyền thống của mình: dạy giáo lý, giúp các họ đạo và hỗ trợ công cuộc truyền giáo. Dù bối cảnh xã hội và cách thức hoạt động đã thay đổi nhiều so với những Thầy Giảng Cái Nhum của thế kỷ XIX, tinh thần phục vụ những nơi cần đến mình vẫn là một phần căn tính của Hội dòng.
Từ năm 1870 đến nay, hành trình của Dòng Kitô Vua đã kéo dài hơn 150 năm.
Điều đáng chú ý không chỉ nằm ở tuổi đời của một Hội dòng, mà còn ở nguồn gốc rất gần với lịch sử truyền giáo tại Việt Nam. Từ nhu cầu cần những người Việt giúp các nhà truyền giáo, hình ảnh người Thầy Giảng dần phát triển thành một đời sống tu trì có tổ chức và được Giáo hội công nhận.
Cái Nhum vì thế không đơn thuần là nơi đặt Nhà Mẹ.
Những dãy nhà cổ, Nhà Khấn từ đầu thế kỷ XX, Nhà nguyện giữa khuôn viên và nhiều thế hệ tu sĩ từng sống nơi đây tạo thành một phần ký ức Công giáo của vùng đất Chợ Lách.
Từ nơi này, nhiều người Thầy đã lên đường. Có người đến những họ đạo nghèo, có người dạy trẻ em, có người dạy giáo lý cho người dự tòng, có người góp phần khai mở những cộng đoàn mới. Chính những hành trình âm thầm ấy đã làm nên một nét riêng của Dòng Kitô Vua – một Hội dòng sinh ra trên đất Việt và lớn lên cùng công cuộc truyền giáo của Giáo hội Việt Nam.
Tên: Dòng Kitô Vua
Tên gọi đầy đủ: Dòng Sư Huynh Giáo Lý Kitô Vua
Thuộc: Giáo phận Vĩnh Long
Loại hình: Hội dòng nam thuộc quyền Giáo phận
Nhà Mẹ: Cái Nhum, vùng Chợ Lách, tỉnh Vĩnh Long
Địa giới trước đây: Chợ Lách, tỉnh Bến Tre
Năm thành lập: 1870
Đấng sáng lập: Cha Gernot Quí và cha Ritter Giáo, Hội Thừa sai Paris
Bổn mạng: Chúa Kitô Vua Vũ Trụ
Đặc sủng: Trợ giúp hàng giáo sĩ trong việc truyền giáo
Sứ vụ đặc trưng: Dạy giáo lý, giúp các họ đạo và hoạt động truyền giáo
Linh đạo: Sống như muối, như men

Chành xe Tô Châu – 460 Lê Hồng Phong
460 Lê Hồng Phong, Phường Vườn Lài, Thành phố Hồ Chí Minh

Chành xe Tô Châu – Thủ Đức
177 Đỗ Mười (QL1A), Phường Tam Bình, Thành phố Hồ Chí Minh

Chành xe Tô Châu – Cầu Vàm Cống
477 QL91, Khu Vực Thới Hòa 1, Phường Thốt Nốt, Thành phố Cần Thơ

Giáo xứ Hải Dương – Giáo hạt Hải Dương, Giáo phận Hải Phòng
100 Trần Hưng Đạo, Phường Lê Thanh Nghị, Thành phố Hải Phòng

Giáo xứ Hàng Kênh, Giáo hạt Chính Tòa, Giáo Phận Hải Phòng
116 Lạch Tray, Phường Lê Chân, Thành phố Hải Phòng

Giáo xứ Hải Dương – Giáo hạt Hải Dương, Giáo phận Hải Phòng
Nằm tại số 100 Trần Hưng Đạo, Giáo xứ Hải Dương thuộc Giáo hạt Hải Dương, Giáo phận Hải Phòng là một cộng đoàn Công giáo lâu đời giữa vùng đất Hải Dương. Ngôi nhà thờ được ghi nhận xây dựng từ năm 1875, hiện diện giữa khu vực trung tâm đô thị và gắn với một vùng đất có vị trí đặc biệt trong lịch sử Công giáo miền Đông Bắc. Không xa nhà thờ là Đền Thánh Tử Đạo Hải Dương, nơi lưu dấu cuộc tử đạo năm 1861 của các chứng nhân đức tin sau này được Giáo hội tuyên phong hiển thánh.

Giáo xứ Hàng Kênh – Giáo hạt Chính Tòa, Giáo phận Hải Phòng
Giữa khu vực nội thành Hải Phòng, trên trục đường Lạch Tray đông đúc, Giáo xứ Hàng Kênh thuộc Giáo hạt Chính Tòa, Giáo phận Hải Phòng là một cộng đoàn Công giáo có lịch sử hơn một thế kỷ. Hàng Kênh được thành lập với tư cách giáo họ từ năm 1893, từng trực thuộc Giáo xứ Nam Pháp trước khi chính thức được nâng lên hàng giáo xứ năm 2020. Từ một giáo họ lâu đời giữa lòng thành phố, Hàng Kênh ngày nay vừa phục vụ cộng đoàn địa phương, vừa trở thành điểm quy tụ của nhiều người Công giáo từ các nơi đến Hải Phòng sinh sống và làm việc.

Giáo xứ Truyền Tin – Giáo hạt Tân Thạnh, Giáo phận Long Xuyên
Giữa vùng đồng bằng được nhận diện bằng những con kinh mang số, Giáo xứ Truyền Tin nằm bên Kinh 8A, thuộc Giáo hạt Tân Thạnh, Giáo phận Long Xuyên. Trước đây, địa chỉ quen thuộc của nhà thờ là Thạnh Đông A, huyện Tân Hiệp, tỉnh Kiên Giang; sau thay đổi địa giới hành chính, khu vực này thuộc xã Thạnh Đông, tỉnh An Giang. Tên gọi Kinh 8A vẫn còn đó, gắn nhà thờ với một không gian rất đặc trưng của miền Tây: những con kinh thẳng dài, ruộng lúa và các xóm dân cư hình thành dọc hai bên bờ nước.

Đỉnh Tầm Bồ – điểm cao giữa rừng Bình Châu – Phước Bửu
Giữa một vùng ven biển vốn được hình dung bằng những bãi cát thấp và Biển Đông, Khu bảo tồn thiên nhiên Bình Châu – Phước Bửu còn có những điểm địa hình cao hơn nằm trong rừng. Tầm Bồ là một trong số đó. Với độ cao khoảng 114 m, nơi đây không phải một ngọn núi lớn, nhưng đủ để mở ra một góc nhìn khác về vùng đất: từ rừng nhìn về phía dải biển Hồ Cốc – Hồ Tràm.Câu chuyện của Tầm Bồ vì thế không nằm ở độ cao. Điều đáng chú ý là vị trí của một điểm cao giữa khu rừng tự nhiên nằm rất gần biển.

Cửa Bình Châu – nơi làng biển mở ra Biển Đông
Ở phía biển của Bình Châu có một khoảng cửa nước nối không gian phía trong với Biển Đông. Trên bản đồ địa danh biển Việt Nam, nơi này mang tên Cửa Bình Châu. Gần đó là Đầm Bình Châu, cảng cá, khu neo đậu tàu thuyền và những công trình phục vụ hoạt động nghề biển.

Aultmore Distillery – Nhà chưng cất whisky giữa vùng Foggie Moss, Speyside, Scotland
Aultmore Distillery là nhà chưng cất Scotch whisky nằm gần thị trấn Keith, thuộc vùng Speyside của Scotland. Được Alexander Edward thành lập và bắt đầu sản xuất năm 1897, Aultmore đã tồn tại hơn 125 năm giữa một khu vực từ lâu gắn với nghề chưng cất whisky.

The Glenrothes Distillery – Nhà chưng cất Speyside từ năm 1879 tại Rothes, Scotland
The Glenrothes Distillery là nhà chưng cất Single Malt Scotch Whisky nằm tại Rothes, Moray, Scotland, ngay trung tâm vùng whisky Speyside. Được thành lập năm 1879, nhà chưng cất trải qua gần 150 năm phát triển và ngày nay là một trong những tên tuổi lâu đời gắn với thị trấn Rothes.

Stirling Distillery – Khi whisky trở lại dưới chân lâu đài Stirling sau hơn 170 năm
Ngay dưới chân Stirling Castle, giữa khu phố cổ mang đậm dấu ấn lịch sử Scotland, một nhà chưng cất nhỏ đang viết tiếp câu chuyện từng bị gián đoạn hơn một thế kỷ. Stirling Distillery không có quy mô lớn, nhưng vị trí, lịch sử và hành trình đưa whisky trở lại thành phố Stirling khiến nơi đây trở thành một điểm đáng chú ý trên bản đồ whisky Scotland.

Kininvie Distillery – Nhà chưng cất Speyside kín tiếng của William Grant & Sons
Kininvie Distillery là nhà chưng cất Single Malt Scotch Whisky nằm tại Dufftown, Moray, Scotland, thuộc vùng whisky Speyside. Được William Grant & Sons xây dựng năm 1990, Kininvie có vị trí đặc biệt khi nằm ngay trong khu vực của The Balvenie Distillery và gần Glenfiddich – hai nhà chưng cất nổi tiếng cùng thuộc tập đoàn gia đình William Grant & Sons.

Auchentoshan Distillery – Nhà chưng cất whisky Lowland hơn 200 năm bên Glasgow, Scotland
Auchentoshan Distillery là nhà chưng cất Scotch whisky nằm tại Clydebank, ở phía tây bắc Glasgow, Scotland. Nhà chưng cất có lịch sử chính thức từ năm 1823 và ngày nay được biết đến đặc biệt với phương pháp chưng cất ba lần – Triple Distillation, tạo nên phong cách nhẹ, tươi và mềm mại đặc trưng của Auchentoshan Single Malt Scotch Whisky.

Nằm tại số 100 Trần Hưng Đạo, Giáo xứ Hải Dương thuộc Giáo hạt Hải Dương, Giáo phận Hải Phòng là một cộng đoàn Công giáo lâu đời giữa vùng đất Hải Dương. Ngôi nhà thờ được ghi nhận xây dựng từ năm 1875, hiện diện giữa khu vực trung tâm đô thị và gắn với một vùng đất có vị trí đặc biệt trong lịch sử Công giáo miền Đông Bắc. Không xa nhà thờ là Đền Thánh Tử Đạo Hải Dương, nơi lưu dấu cuộc tử đạo năm 1861 của các chứng nhân đức tin sau này được Giáo hội tuyên phong hiển thánh.

Giữa khu vực nội thành Hải Phòng, trên trục đường Lạch Tray đông đúc, Giáo xứ Hàng Kênh thuộc Giáo hạt Chính Tòa, Giáo phận Hải Phòng là một cộng đoàn Công giáo có lịch sử hơn một thế kỷ. Hàng Kênh được thành lập với tư cách giáo họ từ năm 1893, từng trực thuộc Giáo xứ Nam Pháp trước khi chính thức được nâng lên hàng giáo xứ năm 2020. Từ một giáo họ lâu đời giữa lòng thành phố, Hàng Kênh ngày nay vừa phục vụ cộng đoàn địa phương, vừa trở thành điểm quy tụ của nhiều người Công giáo từ các nơi đến Hải Phòng sinh sống và làm việc.

Giữa vùng đồng bằng được nhận diện bằng những con kinh mang số, Giáo xứ Truyền Tin nằm bên Kinh 8A, thuộc Giáo hạt Tân Thạnh, Giáo phận Long Xuyên. Trước đây, địa chỉ quen thuộc của nhà thờ là Thạnh Đông A, huyện Tân Hiệp, tỉnh Kiên Giang; sau thay đổi địa giới hành chính, khu vực này thuộc xã Thạnh Đông, tỉnh An Giang. Tên gọi Kinh 8A vẫn còn đó, gắn nhà thờ với một không gian rất đặc trưng của miền Tây: những con kinh thẳng dài, ruộng lúa và các xóm dân cư hình thành dọc hai bên bờ nước.

Giữa một vùng ven biển vốn được hình dung bằng những bãi cát thấp và Biển Đông, Khu bảo tồn thiên nhiên Bình Châu – Phước Bửu còn có những điểm địa hình cao hơn nằm trong rừng. Tầm Bồ là một trong số đó. Với độ cao khoảng 114 m, nơi đây không phải một ngọn núi lớn, nhưng đủ để mở ra một góc nhìn khác về vùng đất: từ rừng nhìn về phía dải biển Hồ Cốc – Hồ Tràm.Câu chuyện của Tầm Bồ vì thế không nằm ở độ cao. Điều đáng chú ý là vị trí của một điểm cao giữa khu rừng tự nhiên nằm rất gần biển.

Ở phía biển của Bình Châu có một khoảng cửa nước nối không gian phía trong với Biển Đông. Trên bản đồ địa danh biển Việt Nam, nơi này mang tên Cửa Bình Châu. Gần đó là Đầm Bình Châu, cảng cá, khu neo đậu tàu thuyền và những công trình phục vụ hoạt động nghề biển.

Trên hành trình từ vùng đất phía trong Đông Nam Bộ về cửa biển Lộc An, sông Ray đi qua một công trình đã làm thay đổi đáng kể cảnh quan và vai trò của dòng nước: Hồ Sông Ray. Với dung tích hơn 215 triệu m³, đây không đơn thuần là một mặt hồ rộng giữa vùng nông nghiệp mà là một hồ chứa có vai trò quan trọng đối với nguồn nước của cả khu vực.

Trước khi gặp Biển Đông tại Lộc An, nước của sông Ray đã đi qua một hành trình dài từ vùng đất phía trong của Đông Nam Bộ. Dòng sông đi qua địa bàn Đồng Nai, tiếp tục chảy về phía nam, qua hồ chứa Sông Ray rồi cuối cùng mở ra vùng cửa biển Lộc An. Nếu nhìn Lộc An từ phía biển, sông Ray là dòng nước đi đến điểm kết thúc; nhưng nếu lần ngược dòng, đó lại là một câu chuyện kéo dài qua nhiều vùng đất.

Ở phía biển của xã Bình Châu, những con tàu đánh cá, bến neo đậu và hoạt động mua bán thủy sản tạo nên một diện mạo rất khác với rừng hay suối khoáng nóng thường được nhắc đến khi nói về vùng đất này. Nơi người dân quen gọi là Cảng cá Bình Châu cũng gắn với tên Bến Lội trong các tài liệu quản lý nghề cá, lưu giữ một phần đời sống biển đã hình thành và tiếp diễn qua nhiều năm.

Giữa vùng rừng ven biển Bình Châu, có một hiện tượng tự nhiên đã khiến tên Bình Châu được biết đến từ rất lâu trước khi những khu nghỉ dưỡng hiện đại xuất hiện: nước nóng từ lòng đất. Hàng chục điểm nước khoáng nóng lộ thiên, có nơi đạt nhiệt độ khoảng 80°C, tạo nên một không gian đặc biệt giữa rừng, cách Biển Đông không xa.