Đang tải bài viết…
Đang tải bài viết…
Ẩn mình giữa những đồi thông và buôn làng của vùng Đơn Dương, Giáo xứ Ka Đơn thuộc Giáo hạt Đơn Dương, Giáo phận Đà Lạt là một cộng đoàn mang đậm dấu ấn của người Churu và K’Ho. Từ một vùng truyền giáo được các linh mục Hội Thừa sai Paris đặt chân đến năm 1958, Ka Đơn từng bước hình thành cộng đoàn, xây dựng nhà thờ và trở thành giáo xứ vào năm 1990. Ngày nay, nơi đây còn được biết đến bởi một ngôi thánh đường hiện đại, giản dị và hòa vào thiên nhiên, từng được quốc tế ghi nhận về kiến trúc thánh.
Ka Đơn nằm trong vùng Đơn Dương, phía đông nam Đà Lạt, nơi từ lâu là địa bàn sinh sống của các cộng đồng dân tộc bản địa, đặc biệt là người Churu và K’Ho. Khác với những giáo xứ hình thành từ các cộng đồng người Kinh di cư, lịch sử Công giáo tại Ka Đơn gắn khá sâu với công cuộc truyền giáo giữa các buôn làng Tây Nguyên.
Năm 1958, các linh mục Hội Thừa sai Paris – MEP, trong đó có cha Darricau, cha Grison và cha Phêrô Võ Trung Thành từ Trung tâm Dân tộc M’Lon, bắt đầu đảm trách việc truyền giáo trong vùng Đơn Dương, bao gồm Ka Đơn. Đây là một trong những dấu mốc sớm nhất được ghi nhận về hoạt động truyền giáo có tổ chức tại vùng đất này.
Năm 1961, với sự thỏa thuận của các linh mục MEP, các linh mục Lazaristes – Tu Hội Truyền Giáo Vinh Sơn – bắt đầu đến làng Diom và phụ trách việc truyền giáo tại vùng phía nam sông Đa Nhim, trong đó có Ka Đơn.
Các linh mục Cartier, Déthune, Dulucq, Berset và Jacques Gros là những người gắn với giai đoạn truyền giáo này. Năm 1967, cha Jacques Gros dựng một nhà nguyện tại làng Ka Đơn và trực tiếp phụ trách khu vực, với sự cộng tác của các Nữ Tử Bác Ái Vinh Sơn người Việt Nam và châu Âu.
Từ đây, đời sống Công giáo bắt đầu hiện diện rõ hơn trong cộng đồng bản địa. Việc truyền giáo không chỉ dừng ở cử hành phụng vụ mà còn gắn với giáo dục, chăm sóc đời sống và đồng hành cùng người dân trong các buôn làng.
Năm 1975, cha Jacques Gros cùng các Nữ Tử Bác Ái Vinh Sơn người châu Âu trở về Pháp. Hoạt động mục vụ tại Ka Đơn bước sang một giai đoạn mới.
Từ năm 1977, cha Gioan Baotixita Nguyễn An Khang, khi ấy là chính xứ Lạc Hòa – Ka Đô, đảm nhận việc mục vụ tại vùng Ka Đơn, bao gồm các khu Kinh tế mới K’răngọ 2, Sao Mai và Próh.
Một dấu mốc đặc biệt diễn ra năm 1978. Lần đầu tiên sau năm 1975, một Thánh lễ được cử hành tại vùng Ka Đơn nhân lễ an táng một giáo dân ở Lạc Nghĩa. Cuối năm ấy, trước lễ Giáng Sinh, cha Alexis Tống Phước Hậu và thầy Augustinô Nguyễn Hữu Gia đến với cộng đoàn; Thánh lễ Giáng Sinh được cử hành trên một gò đất thuộc K’răngọ 2.
Trong điều kiện chưa có một ngôi nhà thờ ổn định, những Thánh lễ như vậy trở thành những điểm quy tụ quan trọng của người Công giáo trong vùng.
Sau nhiều thập niên truyền giáo, cộng đoàn Ka Đơn ngày càng phát triển. Đến năm 1990, Giáo xứ Ka Đơn được hình thành dưới thời cha Alexis Tống Phước Hậu làm quản xứ.
Năm 1991, cha Hậu mời các già làng cùng bàn bạc để lựa chọn địa điểm xây dựng nhà thờ. Với sự hỗ trợ của Tòa Giám mục Đà Lạt và Tu Hội Truyền Giáo Vinh Sơn, cộng đoàn mua lại một nhà kho tiền chế của một công ty trà tại Bảo Lộc để dựng thành nhà thờ.
Tháng 5/1991, Đức cha Bartôlômêô Nguyễn Sơn Lâm làm phép Nhà thờ Ka Đơn. Khi ấy giáo xứ có khoảng 2.612 giáo dân, trong đó khoảng 1.500 người thuộc các cộng đồng K’Ho và Churu, còn lại là người Kinh.
Nhà thờ năm 1991 đáp ứng được nhu cầu trước mắt nhưng về bản chất vẫn chỉ là một công trình tiền chế, khung sắt và bao quanh bằng tôn. Mùa nắng nóng, mùa lạnh rét và khi trời mưa, tiếng mưa trên mái tôn khiến không gian phụng vụ gặp nhiều hạn chế.
Trong khi đó, số giáo dân Ka Đơn tiếp tục tăng. Đến cuối những năm 2000, cộng đoàn đã có khoảng 5.000 người, khiến ngôi nhà thờ cũ không còn đủ sức đáp ứng.
Nhu cầu xây dựng một thánh đường mới vì thế ngày càng trở nên cấp thiết. Nhưng thay vì dựng một công trình đồ sộ theo những mẫu nhà thờ quen thuộc, Ka Đơn lựa chọn một hướng đi khác.
Năm 2007, cha Giuse Nguyễn Đức Ngọc nhận trách nhiệm quản xứ Ka Đơn và bắt đầu thúc đẩy kế hoạch xây dựng nhà thờ mới. Ý tưởng của ngài khá rõ: ngôi thánh đường cần đơn sơ, bình dị, gần gũi thiên nhiên và thể hiện được văn hóa của người Churu – K’Ho đang sống tại đây.
Hai kiến trúc sư trẻ Vũ Thị Thu Hương và Nguyễn Tuấn Dũng, khi đó học tập và làm việc tại Đức, đảm nhận việc thiết kế.
Thay vì một nhà thờ với tháp cao và những khối kiến trúc nặng nề, công trình được phát triển theo phương ngang, thấp và gần với mặt đất. Gỗ thông, ngói, kính và những vật liệu quen thuộc được sử dụng để tạo nên một không gian mở.
Ngày 13/12/2009, Đức cha Phêrô Nguyễn Văn Nhơn chủ sự Thánh lễ đặt viên đá đầu tiên xây dựng Nhà thờ Ka Đơn.
Nhìn từ bên ngoài, Nhà thờ Ka Đơn không tạo cảm giác của một công trình muốn tách mình khỏi cảnh quan. Mái nhà thấp trải dài giữa những hàng thông, trong khi hệ khung gỗ và các mảng kính giúp không gian bên trong luôn giữ được mối liên hệ với thiên nhiên bên ngoài.
Những vách kính kết hợp khung gỗ có thể mở ra, khiến ranh giới giữa bên trong và bên ngoài nhà thờ trở nên mềm hơn. Khi cộng đoàn đông, không gian phụng vụ có thể mở rộng ra chung quanh thay vì bị giới hạn hoàn toàn bởi những bức tường.
Gỗ thông được sử dụng rộng rãi trong kết cấu và nội thất. Màu sắc tự nhiên của vật liệu được giữ lại thay vì che phủ bằng những lớp trang trí cầu kỳ.
Đó cũng là tinh thần xuyên suốt của công trình: đơn sơ nhưng không đơn điệu, hiện đại nhưng vẫn tìm cách giữ mối liên hệ với văn hóa bản địa.
Sau gần năm năm xây dựng, ngày 13/07/2014, Nhà thờ Giáo xứ Ka Đơn chính thức được khánh thành và cung hiến.
Ngày lễ không chỉ mang ý nghĩa hoàn thành một công trình. Những yếu tố văn hóa Churu và K’Ho xuất hiện trong chính không gian ngày cung hiến, từ trang phục, âm nhạc đến sinh hoạt cộng đồng.
Đây cũng là điều mà Ka Đơn cố gắng duy trì trong đời sống giáo xứ: đức tin Công giáo không xóa đi văn hóa của người bản địa mà tìm cách gặp gỡ và cùng tồn tại với những giá trị đã hình thành từ lâu trên vùng đất này.
Ngay từ khi còn nằm trên bản vẽ, thiết kế Nhà thờ Ka Đơn đã bắt đầu được giới kiến trúc chú ý. Năm 2011, đồ án được ghi nhận tại một giải thưởng kiến trúc thánh ở châu Âu.
Đến năm 2016, công trình đã hoàn thành của Ka Đơn giành Giải Nhì tại International Prize for Sacred Architecture lần thứ 6, một giải thưởng quốc tế dành cho kiến trúc Kitô giáo do Fondazione Frate Sole tổ chức tại Italy.
Điều đáng chú ý là Ka Đơn không được quốc tế biết đến vì quy mô lớn hay vật liệu đắt tiền. Giá trị của công trình nằm ở cách kiến trúc giải quyết mối quan hệ giữa phụng vụ, cộng đồng, văn hóa Churu và thiên nhiên cao nguyên.
Một nhà thờ tại một buôn làng của Lâm Đồng từ đó trở thành một công trình được giới kiến trúc quốc tế biết đến.
Nếu chỉ nhìn vào kiến trúc, câu chuyện Ka Đơn vẫn chưa đầy đủ. Điều làm nên bản sắc của giáo xứ chính là cộng đồng đang sống chung quanh nhà thờ.
Theo số liệu Giáo phận Đà Lạt công bố năm 2024, Giáo xứ Ka Đơn có khoảng 6.200 giáo dân, trong đó hơn 4.000 người thuộc các cộng đồng dân tộc bản địa. Quy mô ấy cho thấy yếu tố Churu – K’Ho không chỉ là một chi tiết trang trí của ngôi nhà thờ mà thực sự là một phần của đời sống giáo xứ.
Những ngày giao lưu văn hóa của Giáo hạt Đơn Dương từng được tổ chức tại Ka Đơn với cồng chiêng, trang phục truyền thống, dân ca, phong tục cưới hỏi và ẩm thực của người Churu, K’Ho. Qua đó, nhà thờ còn trở thành một không gian gặp gỡ và gìn giữ những giá trị văn hóa của cộng đồng.
Ngày nay, Giáo xứ Ka Đơn thuộc Giáo hạt Đơn Dương, Giáo phận Đà Lạt. Đây là vùng có nhiều cộng đoàn Công giáo gắn với người Churu và K’Ho như Diom, Próh, Tu Tra, M’Lọn, Lạc Sơn và Ka Đơn.
Ka Đơn cũng thường xuyên trở thành địa điểm tổ chức các sinh hoạt chung của Giáo hạt và Giáo phận. Kiến trúc rộng mở cùng khuôn viên gần gũi thiên nhiên khiến nơi đây phù hợp với những ngày gặp gỡ cộng đồng, nhưng bản chất trước hết vẫn là một nhà thờ giáo xứ và không gian phụng vụ của người Công giáo địa phương.
Những nhà thờ Công giáo tại Việt Nam thường khiến người ta nhớ đến tháp chuông cao, vòm Gothic hay những công trình bằng gạch đá tồn tại qua nhiều thế hệ. Ka Đơn chọn một cách biểu đạt khác.
Ngôi nhà thờ không cố trở thành điểm cao nhất giữa vùng đất. Nó nằm thấp dưới những tán thông.
Không gian không đóng kín mà mở ra bên ngoài.
Vật liệu không cố che giấu nguồn gốc tự nhiên.
Văn hóa bản địa không chỉ xuất hiện qua vài họa tiết trang trí mà trở thành một phần của tư duy thiết kế.
Chính sự tiết chế ấy khiến Nhà thờ Ka Đơn trở nên khác biệt.
Từ một vùng truyền giáo năm 1958, một nhà nguyện nhỏ năm 1967 rồi ngôi nhà thờ tôn năm 1991, cộng đoàn cuối cùng đã có một thánh đường được hoàn thành năm 2014. Và thật đặc biệt, công trình của một giáo xứ miền cao nguyên sau đó lại được thế giới biết đến như một ví dụ về kiến trúc thánh đương đại.
Nhưng phía sau những giải thưởng vẫn là câu chuyện quan trọng hơn: một cộng đoàn Churu, K’Ho và người Kinh đã cùng nhau tạo dựng đời sống đức tin trên vùng đất Ka Đơn qua nhiều thế hệ.
Tên: Giáo xứ Ka Đơn
Giáo hạt: Đơn Dương
Giáo phận: Đà Lạt
Bổn mạng: Thánh Gia
Khởi đầu truyền giáo: Năm 1958
Nhà nguyện tại làng Ka Đơn: Năm 1967
Hình thành Giáo xứ Ka Đơn: Năm 1990
Nhà thờ tiền chế được làm phép: Tháng 5/1991
Đặt viên đá Nhà thờ Ka Đơn hiện nay: 13/12/2009
Khánh thành và cung hiến: 13/07/2014
Ý tưởng xây dựng: Linh mục Giuse Nguyễn Đức Ngọc
Kiến trúc sư: Vũ Thị Thu Hương – Nguyễn Tuấn Dũng
Đặc điểm kiến trúc: Kiến trúc thánh hiện đại, sử dụng gỗ thông, kính, mái ngói và khai thác những giá trị văn hóa Churu – K’Ho
Giải thưởng nổi bật: Giải Nhì International Prize for Sacred Architecture lần thứ 6 – năm 2016
Địa bàn: Ka Đơn, Đơn Dương, tỉnh Lâm Đồng
Cộng đồng: Người Churu, K’Ho và người Kinh
Loại hình: Giáo xứ Công giáo

Chành xe Tô Châu – 460 Lê Hồng Phong
460 Lê Hồng Phong, Phường Vườn Lài, Thành phố Hồ Chí Minh

Chành xe Tô Châu – Thủ Đức
177 Đỗ Mười (QL1A), Phường Tam Bình, Thành phố Hồ Chí Minh

Chành xe Tô Châu – Cầu Vàm Cống
477 QL91, Khu Vực Thới Hòa 1, Phường Thốt Nốt, Thành phố Cần Thơ

Giáo xứ Hải Dương – Giáo hạt Hải Dương, Giáo phận Hải Phòng
100 Trần Hưng Đạo, Phường Lê Thanh Nghị, Thành phố Hải Phòng

Giáo xứ Hàng Kênh, Giáo hạt Chính Tòa, Giáo Phận Hải Phòng
116 Lạch Tray, Phường Lê Chân, Thành phố Hải Phòng

Giáo xứ Hải Dương – Giáo hạt Hải Dương, Giáo phận Hải Phòng
Nằm tại số 100 Trần Hưng Đạo, Giáo xứ Hải Dương thuộc Giáo hạt Hải Dương, Giáo phận Hải Phòng là một cộng đoàn Công giáo lâu đời giữa vùng đất Hải Dương. Ngôi nhà thờ được ghi nhận xây dựng từ năm 1875, hiện diện giữa khu vực trung tâm đô thị và gắn với một vùng đất có vị trí đặc biệt trong lịch sử Công giáo miền Đông Bắc. Không xa nhà thờ là Đền Thánh Tử Đạo Hải Dương, nơi lưu dấu cuộc tử đạo năm 1861 của các chứng nhân đức tin sau này được Giáo hội tuyên phong hiển thánh.

Giáo xứ Hàng Kênh – Giáo hạt Chính Tòa, Giáo phận Hải Phòng
Giữa khu vực nội thành Hải Phòng, trên trục đường Lạch Tray đông đúc, Giáo xứ Hàng Kênh thuộc Giáo hạt Chính Tòa, Giáo phận Hải Phòng là một cộng đoàn Công giáo có lịch sử hơn một thế kỷ. Hàng Kênh được thành lập với tư cách giáo họ từ năm 1893, từng trực thuộc Giáo xứ Nam Pháp trước khi chính thức được nâng lên hàng giáo xứ năm 2020. Từ một giáo họ lâu đời giữa lòng thành phố, Hàng Kênh ngày nay vừa phục vụ cộng đoàn địa phương, vừa trở thành điểm quy tụ của nhiều người Công giáo từ các nơi đến Hải Phòng sinh sống và làm việc.

Giáo xứ Truyền Tin – Giáo hạt Tân Thạnh, Giáo phận Long Xuyên
Giữa vùng đồng bằng được nhận diện bằng những con kinh mang số, Giáo xứ Truyền Tin nằm bên Kinh 8A, thuộc Giáo hạt Tân Thạnh, Giáo phận Long Xuyên. Trước đây, địa chỉ quen thuộc của nhà thờ là Thạnh Đông A, huyện Tân Hiệp, tỉnh Kiên Giang; sau thay đổi địa giới hành chính, khu vực này thuộc xã Thạnh Đông, tỉnh An Giang. Tên gọi Kinh 8A vẫn còn đó, gắn nhà thờ với một không gian rất đặc trưng của miền Tây: những con kinh thẳng dài, ruộng lúa và các xóm dân cư hình thành dọc hai bên bờ nước.

Đỉnh Tầm Bồ – điểm cao giữa rừng Bình Châu – Phước Bửu
Giữa một vùng ven biển vốn được hình dung bằng những bãi cát thấp và Biển Đông, Khu bảo tồn thiên nhiên Bình Châu – Phước Bửu còn có những điểm địa hình cao hơn nằm trong rừng. Tầm Bồ là một trong số đó. Với độ cao khoảng 114 m, nơi đây không phải một ngọn núi lớn, nhưng đủ để mở ra một góc nhìn khác về vùng đất: từ rừng nhìn về phía dải biển Hồ Cốc – Hồ Tràm.Câu chuyện của Tầm Bồ vì thế không nằm ở độ cao. Điều đáng chú ý là vị trí của một điểm cao giữa khu rừng tự nhiên nằm rất gần biển.

Cửa Bình Châu – nơi làng biển mở ra Biển Đông
Ở phía biển của Bình Châu có một khoảng cửa nước nối không gian phía trong với Biển Đông. Trên bản đồ địa danh biển Việt Nam, nơi này mang tên Cửa Bình Châu. Gần đó là Đầm Bình Châu, cảng cá, khu neo đậu tàu thuyền và những công trình phục vụ hoạt động nghề biển.

Aultmore Distillery – Nhà chưng cất whisky giữa vùng Foggie Moss, Speyside, Scotland
Aultmore Distillery là nhà chưng cất Scotch whisky nằm gần thị trấn Keith, thuộc vùng Speyside của Scotland. Được Alexander Edward thành lập và bắt đầu sản xuất năm 1897, Aultmore đã tồn tại hơn 125 năm giữa một khu vực từ lâu gắn với nghề chưng cất whisky.

The Glenrothes Distillery – Nhà chưng cất Speyside từ năm 1879 tại Rothes, Scotland
The Glenrothes Distillery là nhà chưng cất Single Malt Scotch Whisky nằm tại Rothes, Moray, Scotland, ngay trung tâm vùng whisky Speyside. Được thành lập năm 1879, nhà chưng cất trải qua gần 150 năm phát triển và ngày nay là một trong những tên tuổi lâu đời gắn với thị trấn Rothes.

Stirling Distillery – Khi whisky trở lại dưới chân lâu đài Stirling sau hơn 170 năm
Ngay dưới chân Stirling Castle, giữa khu phố cổ mang đậm dấu ấn lịch sử Scotland, một nhà chưng cất nhỏ đang viết tiếp câu chuyện từng bị gián đoạn hơn một thế kỷ. Stirling Distillery không có quy mô lớn, nhưng vị trí, lịch sử và hành trình đưa whisky trở lại thành phố Stirling khiến nơi đây trở thành một điểm đáng chú ý trên bản đồ whisky Scotland.

Kininvie Distillery – Nhà chưng cất Speyside kín tiếng của William Grant & Sons
Kininvie Distillery là nhà chưng cất Single Malt Scotch Whisky nằm tại Dufftown, Moray, Scotland, thuộc vùng whisky Speyside. Được William Grant & Sons xây dựng năm 1990, Kininvie có vị trí đặc biệt khi nằm ngay trong khu vực của The Balvenie Distillery và gần Glenfiddich – hai nhà chưng cất nổi tiếng cùng thuộc tập đoàn gia đình William Grant & Sons.

Auchentoshan Distillery – Nhà chưng cất whisky Lowland hơn 200 năm bên Glasgow, Scotland
Auchentoshan Distillery là nhà chưng cất Scotch whisky nằm tại Clydebank, ở phía tây bắc Glasgow, Scotland. Nhà chưng cất có lịch sử chính thức từ năm 1823 và ngày nay được biết đến đặc biệt với phương pháp chưng cất ba lần – Triple Distillation, tạo nên phong cách nhẹ, tươi và mềm mại đặc trưng của Auchentoshan Single Malt Scotch Whisky.

Nằm tại số 100 Trần Hưng Đạo, Giáo xứ Hải Dương thuộc Giáo hạt Hải Dương, Giáo phận Hải Phòng là một cộng đoàn Công giáo lâu đời giữa vùng đất Hải Dương. Ngôi nhà thờ được ghi nhận xây dựng từ năm 1875, hiện diện giữa khu vực trung tâm đô thị và gắn với một vùng đất có vị trí đặc biệt trong lịch sử Công giáo miền Đông Bắc. Không xa nhà thờ là Đền Thánh Tử Đạo Hải Dương, nơi lưu dấu cuộc tử đạo năm 1861 của các chứng nhân đức tin sau này được Giáo hội tuyên phong hiển thánh.

Giữa khu vực nội thành Hải Phòng, trên trục đường Lạch Tray đông đúc, Giáo xứ Hàng Kênh thuộc Giáo hạt Chính Tòa, Giáo phận Hải Phòng là một cộng đoàn Công giáo có lịch sử hơn một thế kỷ. Hàng Kênh được thành lập với tư cách giáo họ từ năm 1893, từng trực thuộc Giáo xứ Nam Pháp trước khi chính thức được nâng lên hàng giáo xứ năm 2020. Từ một giáo họ lâu đời giữa lòng thành phố, Hàng Kênh ngày nay vừa phục vụ cộng đoàn địa phương, vừa trở thành điểm quy tụ của nhiều người Công giáo từ các nơi đến Hải Phòng sinh sống và làm việc.

Giữa vùng đồng bằng được nhận diện bằng những con kinh mang số, Giáo xứ Truyền Tin nằm bên Kinh 8A, thuộc Giáo hạt Tân Thạnh, Giáo phận Long Xuyên. Trước đây, địa chỉ quen thuộc của nhà thờ là Thạnh Đông A, huyện Tân Hiệp, tỉnh Kiên Giang; sau thay đổi địa giới hành chính, khu vực này thuộc xã Thạnh Đông, tỉnh An Giang. Tên gọi Kinh 8A vẫn còn đó, gắn nhà thờ với một không gian rất đặc trưng của miền Tây: những con kinh thẳng dài, ruộng lúa và các xóm dân cư hình thành dọc hai bên bờ nước.

Giữa một vùng ven biển vốn được hình dung bằng những bãi cát thấp và Biển Đông, Khu bảo tồn thiên nhiên Bình Châu – Phước Bửu còn có những điểm địa hình cao hơn nằm trong rừng. Tầm Bồ là một trong số đó. Với độ cao khoảng 114 m, nơi đây không phải một ngọn núi lớn, nhưng đủ để mở ra một góc nhìn khác về vùng đất: từ rừng nhìn về phía dải biển Hồ Cốc – Hồ Tràm.Câu chuyện của Tầm Bồ vì thế không nằm ở độ cao. Điều đáng chú ý là vị trí của một điểm cao giữa khu rừng tự nhiên nằm rất gần biển.

Ở phía biển của Bình Châu có một khoảng cửa nước nối không gian phía trong với Biển Đông. Trên bản đồ địa danh biển Việt Nam, nơi này mang tên Cửa Bình Châu. Gần đó là Đầm Bình Châu, cảng cá, khu neo đậu tàu thuyền và những công trình phục vụ hoạt động nghề biển.

Trên hành trình từ vùng đất phía trong Đông Nam Bộ về cửa biển Lộc An, sông Ray đi qua một công trình đã làm thay đổi đáng kể cảnh quan và vai trò của dòng nước: Hồ Sông Ray. Với dung tích hơn 215 triệu m³, đây không đơn thuần là một mặt hồ rộng giữa vùng nông nghiệp mà là một hồ chứa có vai trò quan trọng đối với nguồn nước của cả khu vực.

Trước khi gặp Biển Đông tại Lộc An, nước của sông Ray đã đi qua một hành trình dài từ vùng đất phía trong của Đông Nam Bộ. Dòng sông đi qua địa bàn Đồng Nai, tiếp tục chảy về phía nam, qua hồ chứa Sông Ray rồi cuối cùng mở ra vùng cửa biển Lộc An. Nếu nhìn Lộc An từ phía biển, sông Ray là dòng nước đi đến điểm kết thúc; nhưng nếu lần ngược dòng, đó lại là một câu chuyện kéo dài qua nhiều vùng đất.

Ở phía biển của xã Bình Châu, những con tàu đánh cá, bến neo đậu và hoạt động mua bán thủy sản tạo nên một diện mạo rất khác với rừng hay suối khoáng nóng thường được nhắc đến khi nói về vùng đất này. Nơi người dân quen gọi là Cảng cá Bình Châu cũng gắn với tên Bến Lội trong các tài liệu quản lý nghề cá, lưu giữ một phần đời sống biển đã hình thành và tiếp diễn qua nhiều năm.

Giữa vùng rừng ven biển Bình Châu, có một hiện tượng tự nhiên đã khiến tên Bình Châu được biết đến từ rất lâu trước khi những khu nghỉ dưỡng hiện đại xuất hiện: nước nóng từ lòng đất. Hàng chục điểm nước khoáng nóng lộ thiên, có nơi đạt nhiệt độ khoảng 80°C, tạo nên một không gian đặc biệt giữa rừng, cách Biển Đông không xa.