Đang tải bài viết…
Đang tải bài viết…
Hơn hai thế kỷ hiện diện trên vùng đất Chợ Gạo, Giáo xứ Thủ Ngữ mang trong mình câu chuyện về những bước chân truyền giáo đầu tiên, những thế hệ giáo dân khai phá vùng đất bên dòng Kỳ Hôn và một đời sống đức tin được tiếp nối qua nhiều biến động. Ngày nay, Giáo xứ Thủ Ngữ thuộc Giáo hạt Mỹ Tho, Giáo phận Mỹ Tho, là một trong những cộng đoàn Công giáo có lịch sử lâu đời của vùng đất này.
Vùng Chợ Gạo nằm trong không gian sông nước đặc trưng của miền Tây Nam Bộ, nơi những dòng sông và con rạch từng giữ vai trò quan trọng trong việc đi lại, giao thương và hình thành các khu dân cư.
Trong bối cảnh ấy, các cộng đoàn Công giáo cũng dần xuất hiện và phát triển.
Một dấu mốc quan trọng của Thủ Ngữ được ghi nhận vào năm 1820. Khi ấy, cha Francesco del Finochietto, một thừa sai Phanxicô người Ý được giáo dân gọi là cha Cố Phan, từ vùng Cái Nhum đến khu vực này truyền giáo.
Cha mua một số đất hoang tại rạch Thủ Ngữ rồi đưa một số giáo dân đang sinh sống bên kia sông Kỳ Hôn, gần làng Tân Tỉnh Đông, sang khai phá và định cư.
Từ những gia đình Công giáo đầu tiên ấy, cộng đoàn Thủ Ngữ dần được hình thành.
Cha Cố Phan tiếp tục đồng hành với giáo dân nơi đây cho đến cuối đời. Phần mộ của ngài được lưu giữ tại đất thánh của họ đạo ở khu vực Tân Ninh, như một dấu tích còn lại từ buổi đầu hình thành cộng đoàn.
Lịch sử Giáo xứ Thủ Ngữ còn gắn với những nhân vật đặc biệt trong lịch sử Công giáo Việt Nam.
Thánh Philipphê Phan Văn Minh từng có thời gian thi hành mục vụ tại Thủ Ngữ. Thánh Phêrô Lựu cũng từng hiện diện và phục vụ tại vùng đất này. Cả hai sau đó đều chịu tử đạo và được Giáo hội tôn phong trong số 117 Thánh Tử đạo Việt Nam.
Sự hiện diện của các ngài cho thấy Thủ Ngữ không chỉ là một cộng đoàn Công giáo địa phương, mà còn nằm trên một phần hành trình truyền giáo của Giáo hội tại Nam Bộ trong thế kỷ XIX.
Qua từng thời kỳ, nhiều thế hệ linh mục và thừa sai tiếp tục đến chăm sóc cộng đoàn, giúp đời sống đạo tại Thủ Ngữ được duy trì và phát triển.
Một giai đoạn đáng chú ý diễn ra từ năm 1875, khi cha Moreau về phục vụ tại Thủ Ngữ và gắn bó với cộng đoàn trong khoảng hai thập niên.
Khi ấy, việc đi lại giữa các cộng đoàn trong khu vực còn nhiều khó khăn. Cha Moreau tiến hành hợp nhất hai họ đạo Thủ Ngữ và Tân Xuân, đồng thời tìm một vị trí thuận lợi hơn để xây dựng trung tâm sinh hoạt chung.
Một khu đất bên sông Kỳ Hôn, thuộc khu vực Tân Thạnh, được lựa chọn. Nhà thờ từ khu vực Thủ Ngữ – Tân Ninh sau đó được chuyển về địa điểm mới.
Đặt trong bối cảnh cuối thế kỷ XIX, vị trí bên sông mang ý nghĩa rất thực tế. Khi đường bộ chưa phát triển như ngày nay, sông và kênh rạch chính là những tuyến giao thông quen thuộc của người dân Nam Bộ. Từ những xóm làng xung quanh, giáo dân có thể theo đường thủy đến nhà thờ tham dự Thánh lễ và các sinh hoạt của cộng đoàn.
Dòng Kỳ Hôn vì thế không chỉ là một địa danh tự nhiên. Con sông đã trở thành một phần trong ký ức của nhiều thế hệ giáo dân Thủ Ngữ.
Hơn hai trăm năm tồn tại cũng đồng nghĩa Giáo xứ Thủ Ngữ đã trải qua nhiều giai đoạn khác nhau của lịch sử vùng đất Nam Bộ.
Chiến tranh, những thay đổi xã hội và điều kiện sinh hoạt của từng thời kỳ đều tác động đến cộng đoàn. Có những giai đoạn giáo xứ không có linh mục thường trú và phải nhận sự hỗ trợ mục vụ từ các linh mục nơi khác.
Sau năm 1975, Thủ Ngữ từng trải qua một thời gian thiếu cha sở thường xuyên. Từ năm 1976 đến năm 1981, các linh mục từ Mỹ Tho đến hỗ trợ mục vụ. Sau đó, đời sống giáo xứ từng bước được ổn định trở lại.
Nhưng điều còn lại xuyên suốt những biến động ấy chính là cộng đoàn.
Từ những gia đình Công giáo đầu tiên đến khai phá đất đai đầu thế kỷ XIX, nhiều thế hệ tiếp tục sinh sống tại Tân Ninh, Tân Thạnh, Tân Thuận, Tân Hòa và những khu vực lân cận. Nhà thờ trở thành nơi quy tụ không chỉ cho đời sống phụng vụ mà còn cho giáo lý, hội đoàn, bác ái và những sinh hoạt cộng đồng.
Thủ Ngữ hôm nay không chỉ được nhắc đến bởi chiều dài lịch sử.
Những hoạt động của Giáo xứ trong những năm gần đây cho thấy đây vẫn là một cộng đoàn có đời sống sinh hoạt khá phong phú. Giáo xứ từng được chọn làm nơi tổ chức các hoạt động chung của Giáo hạt Mỹ Tho, từ sinh hoạt thiếu nhi, truyền giáo đến thánh ca và những chương trình phục vụ cộng đồng.
Năm 2024, khoảng 200 y bác sĩ từ Thành phố Hồ Chí Minh đã đến Giáo xứ Thủ Ngữ khám chữa bệnh miễn phí cho người dân trong và ngoài giáo xứ. Cũng trong năm này, Nhà nguyện Tân Hòa thuộc Giáo xứ Thủ Ngữ được làm phép, tạo thêm một nơi sinh hoạt đức tin cho bà con, đặc biệt là những người lớn tuổi và những gia đình ở xa nhà thờ.
Những hoạt động ấy cho thấy đời sống của một giáo xứ lâu đời không dừng lại ở việc gìn giữ ký ức quá khứ. Cộng đoàn vẫn tiếp tục thay đổi, mở rộng và thích nghi với nhu cầu của giáo dân qua từng thời kỳ.
Trong phần lớn các tài liệu trước đây, Giáo xứ Thủ Ngữ được biết đến với địa chỉ thuộc xã Xuân Đông, huyện Chợ Gạo, tỉnh Tiền Giang.
Sau quá trình sắp xếp đơn vị hành chính, vùng đất này nay thuộc xã Bình Ninh, tỉnh Đồng Tháp.
Địa chỉ hành chính thay đổi nhưng những địa danh cũ vẫn mang giá trị lịch sử đối với cộng đoàn.
Chợ Gạo gợi nhớ vùng đất mà giáo xứ đã gắn bó qua nhiều thế hệ. Xuân Đông ghi lại một giai đoạn hành chính. Tân Ninh và Tân Thạnh gắn với những xóm làng nơi giáo dân sinh sống. Dòng Kỳ Hôn gắn với con đường đi lại và sự hình thành của nhà thờ. Còn Thủ Ngữ là cái tên đã được trao truyền qua hơn hai thế kỷ.
Nhìn từ hành trình ấy, Giáo xứ Thủ Ngữ không đơn thuần là một địa điểm tôn giáo. Lịch sử của giáo xứ cũng kể lại một phần câu chuyện về con người trên vùng đất Nam Bộ: đến khai phá đất đai, dựng xóm làng, xây nhà thờ, sống bên những dòng sông và trao lại cho thế hệ sau cả quê hương lẫn đời sống đức tin.
Hơn hai trăm năm đã trôi qua, địa giới và diện mạo vùng đất có thể đổi thay, nhưng cái tên Thủ Ngữ vẫn còn đó, gắn với một cộng đoàn Công giáo lâu đời thuộc Giáo hạt Mỹ Tho, Giáo phận Mỹ Tho.
Tên: Giáo xứ Thủ Ngữ
Giáo hạt: Mỹ Tho
Giáo phận: Mỹ Tho
Địa chỉ hiện nay: Ấp Tân Ninh, xã Bình Ninh, tỉnh Đồng Tháp
Địa chỉ trước đây: 256 tổ 10, ấp Tân Ninh, xã Xuân Đông, huyện Chợ Gạo, tỉnh Tiền Giang
Điện thoại: 0273 389 2029
Năm hình thành: 1820
Địa danh gắn với lịch sử: Thủ Ngữ, Tân Ninh, Tân Thạnh, sông Kỳ Hôn, Chợ Gạo
Loại hình: Giáo xứ Công giáo

Chành xe Tô Châu – 460 Lê Hồng Phong
460 Lê Hồng Phong, Phường Vườn Lài, Thành phố Hồ Chí Minh

Chành xe Tô Châu – Thủ Đức
177 Đỗ Mười (QL1A), Phường Tam Bình, Thành phố Hồ Chí Minh

Chành xe Tô Châu – Cầu Vàm Cống
477 QL91, Khu Vực Thới Hòa 1, Phường Thốt Nốt, Thành phố Cần Thơ

Giáo xứ Hải Dương – Giáo hạt Hải Dương, Giáo phận Hải Phòng
100 Trần Hưng Đạo, Phường Lê Thanh Nghị, Thành phố Hải Phòng

Giáo xứ Hàng Kênh, Giáo hạt Chính Tòa, Giáo Phận Hải Phòng
116 Lạch Tray, Phường Lê Chân, Thành phố Hải Phòng

Giáo xứ Hải Dương – Giáo hạt Hải Dương, Giáo phận Hải Phòng
Nằm tại số 100 Trần Hưng Đạo, Giáo xứ Hải Dương thuộc Giáo hạt Hải Dương, Giáo phận Hải Phòng là một cộng đoàn Công giáo lâu đời giữa vùng đất Hải Dương. Ngôi nhà thờ được ghi nhận xây dựng từ năm 1875, hiện diện giữa khu vực trung tâm đô thị và gắn với một vùng đất có vị trí đặc biệt trong lịch sử Công giáo miền Đông Bắc. Không xa nhà thờ là Đền Thánh Tử Đạo Hải Dương, nơi lưu dấu cuộc tử đạo năm 1861 của các chứng nhân đức tin sau này được Giáo hội tuyên phong hiển thánh.

Giáo xứ Hàng Kênh – Giáo hạt Chính Tòa, Giáo phận Hải Phòng
Giữa khu vực nội thành Hải Phòng, trên trục đường Lạch Tray đông đúc, Giáo xứ Hàng Kênh thuộc Giáo hạt Chính Tòa, Giáo phận Hải Phòng là một cộng đoàn Công giáo có lịch sử hơn một thế kỷ. Hàng Kênh được thành lập với tư cách giáo họ từ năm 1893, từng trực thuộc Giáo xứ Nam Pháp trước khi chính thức được nâng lên hàng giáo xứ năm 2020. Từ một giáo họ lâu đời giữa lòng thành phố, Hàng Kênh ngày nay vừa phục vụ cộng đoàn địa phương, vừa trở thành điểm quy tụ của nhiều người Công giáo từ các nơi đến Hải Phòng sinh sống và làm việc.

Giáo xứ Truyền Tin – Giáo hạt Tân Thạnh, Giáo phận Long Xuyên
Giữa vùng đồng bằng được nhận diện bằng những con kinh mang số, Giáo xứ Truyền Tin nằm bên Kinh 8A, thuộc Giáo hạt Tân Thạnh, Giáo phận Long Xuyên. Trước đây, địa chỉ quen thuộc của nhà thờ là Thạnh Đông A, huyện Tân Hiệp, tỉnh Kiên Giang; sau thay đổi địa giới hành chính, khu vực này thuộc xã Thạnh Đông, tỉnh An Giang. Tên gọi Kinh 8A vẫn còn đó, gắn nhà thờ với một không gian rất đặc trưng của miền Tây: những con kinh thẳng dài, ruộng lúa và các xóm dân cư hình thành dọc hai bên bờ nước.

Đỉnh Tầm Bồ – điểm cao giữa rừng Bình Châu – Phước Bửu
Giữa một vùng ven biển vốn được hình dung bằng những bãi cát thấp và Biển Đông, Khu bảo tồn thiên nhiên Bình Châu – Phước Bửu còn có những điểm địa hình cao hơn nằm trong rừng. Tầm Bồ là một trong số đó. Với độ cao khoảng 114 m, nơi đây không phải một ngọn núi lớn, nhưng đủ để mở ra một góc nhìn khác về vùng đất: từ rừng nhìn về phía dải biển Hồ Cốc – Hồ Tràm.Câu chuyện của Tầm Bồ vì thế không nằm ở độ cao. Điều đáng chú ý là vị trí của một điểm cao giữa khu rừng tự nhiên nằm rất gần biển.

Cửa Bình Châu – nơi làng biển mở ra Biển Đông
Ở phía biển của Bình Châu có một khoảng cửa nước nối không gian phía trong với Biển Đông. Trên bản đồ địa danh biển Việt Nam, nơi này mang tên Cửa Bình Châu. Gần đó là Đầm Bình Châu, cảng cá, khu neo đậu tàu thuyền và những công trình phục vụ hoạt động nghề biển.

Aultmore Distillery – Nhà chưng cất whisky giữa vùng Foggie Moss, Speyside, Scotland
Aultmore Distillery là nhà chưng cất Scotch whisky nằm gần thị trấn Keith, thuộc vùng Speyside của Scotland. Được Alexander Edward thành lập và bắt đầu sản xuất năm 1897, Aultmore đã tồn tại hơn 125 năm giữa một khu vực từ lâu gắn với nghề chưng cất whisky.

The Glenrothes Distillery – Nhà chưng cất Speyside từ năm 1879 tại Rothes, Scotland
The Glenrothes Distillery là nhà chưng cất Single Malt Scotch Whisky nằm tại Rothes, Moray, Scotland, ngay trung tâm vùng whisky Speyside. Được thành lập năm 1879, nhà chưng cất trải qua gần 150 năm phát triển và ngày nay là một trong những tên tuổi lâu đời gắn với thị trấn Rothes.

Stirling Distillery – Khi whisky trở lại dưới chân lâu đài Stirling sau hơn 170 năm
Ngay dưới chân Stirling Castle, giữa khu phố cổ mang đậm dấu ấn lịch sử Scotland, một nhà chưng cất nhỏ đang viết tiếp câu chuyện từng bị gián đoạn hơn một thế kỷ. Stirling Distillery không có quy mô lớn, nhưng vị trí, lịch sử và hành trình đưa whisky trở lại thành phố Stirling khiến nơi đây trở thành một điểm đáng chú ý trên bản đồ whisky Scotland.

Kininvie Distillery – Nhà chưng cất Speyside kín tiếng của William Grant & Sons
Kininvie Distillery là nhà chưng cất Single Malt Scotch Whisky nằm tại Dufftown, Moray, Scotland, thuộc vùng whisky Speyside. Được William Grant & Sons xây dựng năm 1990, Kininvie có vị trí đặc biệt khi nằm ngay trong khu vực của The Balvenie Distillery và gần Glenfiddich – hai nhà chưng cất nổi tiếng cùng thuộc tập đoàn gia đình William Grant & Sons.

Auchentoshan Distillery – Nhà chưng cất whisky Lowland hơn 200 năm bên Glasgow, Scotland
Auchentoshan Distillery là nhà chưng cất Scotch whisky nằm tại Clydebank, ở phía tây bắc Glasgow, Scotland. Nhà chưng cất có lịch sử chính thức từ năm 1823 và ngày nay được biết đến đặc biệt với phương pháp chưng cất ba lần – Triple Distillation, tạo nên phong cách nhẹ, tươi và mềm mại đặc trưng của Auchentoshan Single Malt Scotch Whisky.

Nằm tại số 100 Trần Hưng Đạo, Giáo xứ Hải Dương thuộc Giáo hạt Hải Dương, Giáo phận Hải Phòng là một cộng đoàn Công giáo lâu đời giữa vùng đất Hải Dương. Ngôi nhà thờ được ghi nhận xây dựng từ năm 1875, hiện diện giữa khu vực trung tâm đô thị và gắn với một vùng đất có vị trí đặc biệt trong lịch sử Công giáo miền Đông Bắc. Không xa nhà thờ là Đền Thánh Tử Đạo Hải Dương, nơi lưu dấu cuộc tử đạo năm 1861 của các chứng nhân đức tin sau này được Giáo hội tuyên phong hiển thánh.

Giữa khu vực nội thành Hải Phòng, trên trục đường Lạch Tray đông đúc, Giáo xứ Hàng Kênh thuộc Giáo hạt Chính Tòa, Giáo phận Hải Phòng là một cộng đoàn Công giáo có lịch sử hơn một thế kỷ. Hàng Kênh được thành lập với tư cách giáo họ từ năm 1893, từng trực thuộc Giáo xứ Nam Pháp trước khi chính thức được nâng lên hàng giáo xứ năm 2020. Từ một giáo họ lâu đời giữa lòng thành phố, Hàng Kênh ngày nay vừa phục vụ cộng đoàn địa phương, vừa trở thành điểm quy tụ của nhiều người Công giáo từ các nơi đến Hải Phòng sinh sống và làm việc.

Giữa vùng đồng bằng được nhận diện bằng những con kinh mang số, Giáo xứ Truyền Tin nằm bên Kinh 8A, thuộc Giáo hạt Tân Thạnh, Giáo phận Long Xuyên. Trước đây, địa chỉ quen thuộc của nhà thờ là Thạnh Đông A, huyện Tân Hiệp, tỉnh Kiên Giang; sau thay đổi địa giới hành chính, khu vực này thuộc xã Thạnh Đông, tỉnh An Giang. Tên gọi Kinh 8A vẫn còn đó, gắn nhà thờ với một không gian rất đặc trưng của miền Tây: những con kinh thẳng dài, ruộng lúa và các xóm dân cư hình thành dọc hai bên bờ nước.

Giữa một vùng ven biển vốn được hình dung bằng những bãi cát thấp và Biển Đông, Khu bảo tồn thiên nhiên Bình Châu – Phước Bửu còn có những điểm địa hình cao hơn nằm trong rừng. Tầm Bồ là một trong số đó. Với độ cao khoảng 114 m, nơi đây không phải một ngọn núi lớn, nhưng đủ để mở ra một góc nhìn khác về vùng đất: từ rừng nhìn về phía dải biển Hồ Cốc – Hồ Tràm.Câu chuyện của Tầm Bồ vì thế không nằm ở độ cao. Điều đáng chú ý là vị trí của một điểm cao giữa khu rừng tự nhiên nằm rất gần biển.

Ở phía biển của Bình Châu có một khoảng cửa nước nối không gian phía trong với Biển Đông. Trên bản đồ địa danh biển Việt Nam, nơi này mang tên Cửa Bình Châu. Gần đó là Đầm Bình Châu, cảng cá, khu neo đậu tàu thuyền và những công trình phục vụ hoạt động nghề biển.

Trên hành trình từ vùng đất phía trong Đông Nam Bộ về cửa biển Lộc An, sông Ray đi qua một công trình đã làm thay đổi đáng kể cảnh quan và vai trò của dòng nước: Hồ Sông Ray. Với dung tích hơn 215 triệu m³, đây không đơn thuần là một mặt hồ rộng giữa vùng nông nghiệp mà là một hồ chứa có vai trò quan trọng đối với nguồn nước của cả khu vực.

Trước khi gặp Biển Đông tại Lộc An, nước của sông Ray đã đi qua một hành trình dài từ vùng đất phía trong của Đông Nam Bộ. Dòng sông đi qua địa bàn Đồng Nai, tiếp tục chảy về phía nam, qua hồ chứa Sông Ray rồi cuối cùng mở ra vùng cửa biển Lộc An. Nếu nhìn Lộc An từ phía biển, sông Ray là dòng nước đi đến điểm kết thúc; nhưng nếu lần ngược dòng, đó lại là một câu chuyện kéo dài qua nhiều vùng đất.

Ở phía biển của xã Bình Châu, những con tàu đánh cá, bến neo đậu và hoạt động mua bán thủy sản tạo nên một diện mạo rất khác với rừng hay suối khoáng nóng thường được nhắc đến khi nói về vùng đất này. Nơi người dân quen gọi là Cảng cá Bình Châu cũng gắn với tên Bến Lội trong các tài liệu quản lý nghề cá, lưu giữ một phần đời sống biển đã hình thành và tiếp diễn qua nhiều năm.

Giữa vùng rừng ven biển Bình Châu, có một hiện tượng tự nhiên đã khiến tên Bình Châu được biết đến từ rất lâu trước khi những khu nghỉ dưỡng hiện đại xuất hiện: nước nóng từ lòng đất. Hàng chục điểm nước khoáng nóng lộ thiên, có nơi đạt nhiệt độ khoảng 80°C, tạo nên một không gian đặc biệt giữa rừng, cách Biển Đông không xa.