Đang tải bài viết…
Đang tải bài viết…
Mỗi năm vào tháng Hai âm lịch, nhịp sống của làng biển Phước Hải có những ngày khác thường. Chiếc lưới vốn theo ngư dân ra biển bước vào những cuộc thi đan lưới, cột lưới; hình ảnh tôm cá xuất hiện trong đoàn diễn hành; còn những người cao niên của làng thực hiện nghi thức ra biển nghinh đón Ông Nam Hải về Dinh. Đó là Lễ hội Nghinh Ông Nam Hải – mùa lễ hình thành từ tín ngưỡng cá Ông, nhưng phía sau nghi lễ còn là câu chuyện về nghề biển, tiền hiền, cộng đồng và cách một làng cá gìn giữ ký ức của mình qua nhiều thế hệ.
Lễ hội Nghinh Ông Nam Hải được tổ chức tại xã Phước Hải, Thành phố Hồ Chí Minh ngày nay. Trong những tài liệu trước khi thay đổi đơn vị hành chính, địa điểm thường được ghi là thị trấn Phước Hải, huyện Đất Đỏ; sau đó là huyện Long Đất, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.
Theo tài liệu giáo dục địa phương và nguồn du lịch địa phương, lễ hội truyền thống tại Phước Hải diễn ra vào tháng Hai âm lịch. Dữ liệu hiện nay xác định thời gian phổ biến là ngày 15, 16 và 17 tháng Hai âm lịch, trong đó ngày 17 được ghi nhận là chính lễ.
Lễ hội năm 2026 tiếp tục diễn ra trong ba ngày, từ ngày 2 đến 4/4, tương ứng ngày 15–17 tháng Hai âm lịch. Điều này cho thấy Nghinh Ông không chỉ tồn tại trong các tài liệu về phong tục cũ mà vẫn là một sinh hoạt cộng đồng đang được duy trì tại Phước Hải hiện nay.
Nhưng để hiểu vì sao người dân tổ chức những ngày lễ này, phải trở lại với chính nghề biển.
Trong quan niệm của nhiều cộng đồng ngư dân ven biển, cá voi được kính gọi là cá Ông hay Ông Nam Hải. Người dân tin Ông có thể che chở ghe thuyền và cứu giúp người gặp nạn giữa sóng gió. Từ niềm tin ấy hình thành tục thờ cá Ông và những lễ hội Nghinh Ông tại nhiều làng biển.
Ở Phước Hải, tín ngưỡng ấy gắn đặc biệt sâu với cộng đồng làng cá.
Bởi vậy, Nghinh Ông trước hết không phải một sự kiện được tạo ra để phục vụ du lịch.
Đây là mùa lễ của những người sống bằng biển.
Một trong những nghi thức quan trọng nhất của lễ hội là nghinh thủy thần, thường được gọi gần gũi là nghinh Ông.
Ghi nhận tại Lễ hội Nghinh Ông Nam Hải năm 2025 cho thấy vào buổi sáng, Ban nghi lễ gồm những người cao niên am hiểu phong tục và có uy tín trong cộng đồng lên tàu ra khơi thực hiện nghi thức đón rước thần Nam Hải về Dinh. Trên bờ, đoàn rước với cờ, lọng, ngai, chiêng trống và lễ phục truyền thống tiến ra phía biển.
Nếu chỉ nhìn hình thức, đó là một đoàn rước.
Nhưng đặt trong đời sống của làng chài, hướng đi của nghi thức mang một ý nghĩa rất rõ.
Dinh ở trên đất liền, còn Ông được nghinh từ biển.
Biển là nơi ngư dân ra đi mỗi ngày. Biển cũng là nơi những câu chuyện về cá Ông cứu người được lưu truyền. Vì thế, nghi thức đưa thuyền ra khơi rồi nghinh Ông trở về Dinh như nối hai không gian quan trọng nhất trong đời sống của cộng đồng: mặt biển và làng.
Ở giữa hai không gian ấy là những con người sống bằng nghề đánh bắt.
Bởi vậy, Nghinh Ông cũng có thể được nhìn như một nghi thức đưa biểu tượng bảo trợ của người đi biển từ ngoài khơi trở về với cộng đồng.
Một đặc điểm đáng chú ý của Nghinh Ông Phước Hải là không gian lễ hội không nằm gọn trong một công trình.
Nguồn du lịch địa phương xác định ba không gian chính liên quan đến lễ hội gồm khu mộ Tiền hiền – Hậu hiền, Dinh Ông Nam Hải và Ngọc Lăng Nam Hải.
Ba nơi ấy đại diện cho ba lớp ký ức khác nhau của cộng đồng.
Tiền hiền – Hậu hiền gợi nhớ những thế hệ có công khai phá và xây dựng làng.
Dinh Ông Nam Hải là nơi thực hành tín ngưỡng đối với vị thần bảo trợ người đi biển.
Ngọc Lăng Nam Hải là nơi những cá Ông lụy vào vùng biển Phước Hải được cộng đồng an táng.
Phía ngoài tất cả những không gian ấy là biển – nơi tạo ra sinh kế và cũng là nơi bắt đầu tín ngưỡng.
Vì vậy, lễ hội tạo thành một mạng liên kết:
Tiền hiền – Hậu hiền → Dinh Ông → Ngọc Lăng → biển.
Đây là chi tiết quan trọng để hiểu Nghinh Ông Phước Hải.
Người dân không chỉ thờ một vị thần.
Trong những ngày lễ, cộng đồng đồng thời nhìn lại nguồn gốc của làng, những người đi trước, nghề nghiệp hiện tại và niềm tin gắn với biển.
Lễ hội có hai lớp hoạt động thường được gọi là phần lễ và phần hội.
Phần lễ giữ tính trang nghiêm với những nghi thức gắn với tín ngưỡng Nam Hải, cầu an, tưởng niệm tiền hiền và nghinh thủy thần. Một nghiên cứu về đời sống văn hóa Phước Hải còn ghi nhận các nghi thức như cúng giỗ tiền hiền và cúng Bà Ngũ Hành, cho thấy lễ hội địa phương không chỉ chứa một lớp tín ngưỡng duy nhất mà phản ánh sự giao thoa của nhiều niềm tin trong cộng đồng ven biển.
Phần hội lại đưa những yếu tố của đời sống thường ngày vào không khí cộng đồng.
Năm 2026, ngay trên bãi biển Phước Hải diễn ra các hoạt động thi đan lưới, cột lưới, gánh cá trên cát và nhảy bao bố. Chương trình còn có bi sắt, đua ghe mô hình, đồng diễn võ thuật, vũ điệu tôm cá, đờn ca tài tử và thả diều.
Trong số đó, đan lưới, cột lưới và gánh cá đặc biệt đáng chú ý.
Đây vốn không phải những trò chơi được sáng tạo hoàn toàn cho lễ hội.
Chúng bắt nguồn từ lao động.
Chiếc lưới ngày thường dùng để đánh bắt trở thành vật liệu của cuộc thi. Công việc vận chuyển sản vật từ biển được chuyển thành trò gánh cá. Hình ảnh tôm cá vốn gắn với sinh kế lại bước vào những hoạt động trình diễn.
Nói cách khác, nghề nghiệp của cộng đồng đã đi vào lễ hội.
Điều này tạo cho Nghinh Ông Phước Hải một nét riêng: phần hội không đứng tách khỏi đời sống làng chài mà tái hiện chính những kỹ năng, hình ảnh và công việc của người dân miền biển.
Nếu đọc riêng từng địa danh, Lưới Rê, Dinh Ông hay Ngọc Lăng có thể giống những câu chuyện khác nhau.
Nhưng Lễ hội Nghinh Ông là nơi các câu chuyện ấy gặp nhau.
Tên Lưới Rê nhắc về buổi đầu của một cộng đồng mà nghề đánh bắt đã đi vào chính tên đất.
Dinh Ông Nam Hải cho thấy từ nghề biển hình thành một tín ngưỡng.
Ngọc Lăng Nam Hải cho thấy niềm tin ấy được thực hành bằng cách cộng đồng tiếp nhận và an táng cá Ông khi Ông lụy vào bờ.
Còn Lễ hội Nghinh Ông đưa tất cả những lớp ấy trở lại với cộng đồng mỗi năm.
Người dân tưởng nhớ tiền hiền.
Ngư dân nghinh Ông từ biển.
Cộng đồng về Dinh làm lễ.
Những công việc như đan lưới, cột lưới hay gánh cá bước vào phần hội.
Và biển tiếp tục đứng phía trước làng như nó đã tồn tại qua nhiều thế hệ.
Bởi vậy, Nghinh Ông không đơn thuần là một ngày lễ tôn giáo hay tín ngưỡng.
Nó giống như thời điểm ký ức của làng được tập hợp lại.
Một di sản văn hóa có thể được lưu lại trong tài liệu, hiện vật hoặc kiến trúc.
Nhưng lễ hội chỉ thực sự tồn tại khi còn người thực hành.
Ở Phước Hải, điều này vẫn có thể quan sát rất rõ.
Tháng 4/2026, người dân xã Phước Hải vẫn cùng tham gia Nghinh Ông. Ngư dân thi đan lưới và cột lưới trên bãi biển. Những hoạt động cộng đồng diễn ra trong suốt ba ngày lễ hội. TTXVN cũng ghi nhận Nghinh Ông là sự kiện lớn của địa phương, gắn trực tiếp đời sống tâm linh với sinh kế của cư dân làng chài.
Điều đáng chú ý ở đây không phải lễ hội đã tồn tại bao nhiêu năm theo một con số chính xác.
Quan trọng hơn là mạch thực hành vẫn chưa bị đứt.
Biển vẫn tạo sinh kế.
Ngư dân vẫn ra khơi.
Cá Ông vẫn được kính trọng.
Dinh Ông và Ngọc Lăng vẫn giữ chức năng trong đời sống tín ngưỡng.
Và đến tháng Hai âm lịch, cộng đồng lại dành những ngày riêng để Nghinh Ông.
Nếu Làng chài Phước Hải kể câu chuyện về cách con người sống bằng biển, thì Lễ hội Nghinh Ông cho thấy cách những người sống bằng biển cùng nhau tạo ra một đời sống tinh thần.
Từ chiếc ghe, tấm lưới và những chuyến đi ngoài khơi, một niềm tin hình thành. Từ niềm tin xuất hiện Dinh Ông, Ngọc Lăng và nghi lễ. Qua nhiều thế hệ, những yếu tố ấy kết lại thành một mùa lễ của cả làng.
Vì thế, giá trị của Lễ hội Nghinh Ông Nam Hải không chỉ nằm ở đoàn rước, cờ lọng hay những ngày đông vui trên bãi biển. Điều đáng ghi dấu hơn là mỗi mùa lễ lại nối người Phước Hải hôm nay với biển, với nghề và với ký ức của những thế hệ đã tạo dựng làng trước họ.
Mapstore tổng hợp, đối chiếu và biên tập từ nhiều nguồn tư liệu. Cập nhật: 20/09/2026.

Chành xe Tô Châu – Quốc lộ 54, Bình Minh, Vĩnh Long
Cầu vượt Quốc lộ 54, Tổ 22, Khóm Đông Thuận, Phường Đông Thành, Tỉnh Vĩnh Long

Chành xe Tô Châu – 501 Nguyễn Đáng, Trà Vinh, Vĩnh Long
501 Nguyễn Đáng, Khóm 20, Phường Trà Vinh, Tỉnh Vĩnh Long

Chành xe Tô Châu – Điểm phát hàng 78 Đường 3 Tháng 2, Tân Thành, Cà Mau
78 Đường 3 tháng 2, Phường Tân Thành, Tỉnh Cà Mau

Chành xe Tô Châu – 21 Nguyễn Phúc Chu, Hà Tiên, An Giang
21 Nguyễn Phúc Chu, Khu phố 4, Phường Hà Tiên, Tỉnh An Giang

Chành xe Tô Châu – 829 Khu phố Minh An, Châu Thành, An Giang
829 Khu phố Minh An, Xã Châu Thành, Tỉnh An Giang

Giáo xứ Hải Dương – Giáo hạt Hải Dương, Giáo phận Hải Phòng
Nằm tại số 100 Trần Hưng Đạo, Giáo xứ Hải Dương thuộc Giáo hạt Hải Dương, Giáo phận Hải Phòng là một cộng đoàn Công giáo lâu đời giữa vùng đất Hải Dương. Ngôi nhà thờ được ghi nhận xây dựng từ năm 1875, hiện diện giữa khu vực trung tâm đô thị và gắn với một vùng đất có vị trí đặc biệt trong lịch sử Công giáo miền Đông Bắc. Không xa nhà thờ là Đền Thánh Tử Đạo Hải Dương, nơi lưu dấu cuộc tử đạo năm 1861 của các chứng nhân đức tin sau này được Giáo hội tuyên phong hiển thánh.

Giáo xứ Hàng Kênh – Giáo hạt Chính Tòa, Giáo phận Hải Phòng
Giữa khu vực nội thành Hải Phòng, trên trục đường Lạch Tray đông đúc, Giáo xứ Hàng Kênh thuộc Giáo hạt Chính Tòa, Giáo phận Hải Phòng là một cộng đoàn Công giáo có lịch sử hơn một thế kỷ. Hàng Kênh được thành lập với tư cách giáo họ từ năm 1893, từng trực thuộc Giáo xứ Nam Pháp trước khi chính thức được nâng lên hàng giáo xứ năm 2020. Từ một giáo họ lâu đời giữa lòng thành phố, Hàng Kênh ngày nay vừa phục vụ cộng đoàn địa phương, vừa trở thành điểm quy tụ của nhiều người Công giáo từ các nơi đến Hải Phòng sinh sống và làm việc.

Giáo xứ Truyền Tin – Giáo hạt Tân Thạnh, Giáo phận Long Xuyên
Giữa vùng đồng bằng được nhận diện bằng những con kinh mang số, Giáo xứ Truyền Tin nằm bên Kinh 8A, thuộc Giáo hạt Tân Thạnh, Giáo phận Long Xuyên. Trước đây, địa chỉ quen thuộc của nhà thờ là Thạnh Đông A, huyện Tân Hiệp, tỉnh Kiên Giang; sau thay đổi địa giới hành chính, khu vực này thuộc xã Thạnh Đông, tỉnh An Giang. Tên gọi Kinh 8A vẫn còn đó, gắn nhà thờ với một không gian rất đặc trưng của miền Tây: những con kinh thẳng dài, ruộng lúa và các xóm dân cư hình thành dọc hai bên bờ nước.

Đỉnh Tầm Bồ – điểm cao giữa rừng Bình Châu – Phước Bửu
Giữa một vùng ven biển vốn được hình dung bằng những bãi cát thấp và Biển Đông, Khu bảo tồn thiên nhiên Bình Châu – Phước Bửu còn có những điểm địa hình cao hơn nằm trong rừng. Tầm Bồ là một trong số đó. Với độ cao khoảng 114 m, nơi đây không phải một ngọn núi lớn, nhưng đủ để mở ra một góc nhìn khác về vùng đất: từ rừng nhìn về phía dải biển Hồ Cốc – Hồ Tràm.Câu chuyện của Tầm Bồ vì thế không nằm ở độ cao. Điều đáng chú ý là vị trí của một điểm cao giữa khu rừng tự nhiên nằm rất gần biển.

Cửa Bình Châu – nơi làng biển mở ra Biển Đông
Ở phía biển của Bình Châu có một khoảng cửa nước nối không gian phía trong với Biển Đông. Trên bản đồ địa danh biển Việt Nam, nơi này mang tên Cửa Bình Châu. Gần đó là Đầm Bình Châu, cảng cá, khu neo đậu tàu thuyền và những công trình phục vụ hoạt động nghề biển.

Aultmore Distillery – Nhà chưng cất whisky giữa vùng Foggie Moss, Speyside, Scotland
Aultmore Distillery là nhà chưng cất Scotch whisky nằm gần thị trấn Keith, thuộc vùng Speyside của Scotland. Được Alexander Edward thành lập và bắt đầu sản xuất năm 1897, Aultmore đã tồn tại hơn 125 năm giữa một khu vực từ lâu gắn với nghề chưng cất whisky.

The Glenrothes Distillery – Nhà chưng cất Speyside từ năm 1879 tại Rothes, Scotland
The Glenrothes Distillery là nhà chưng cất Single Malt Scotch Whisky nằm tại Rothes, Moray, Scotland, ngay trung tâm vùng whisky Speyside. Được thành lập năm 1879, nhà chưng cất trải qua gần 150 năm phát triển và ngày nay là một trong những tên tuổi lâu đời gắn với thị trấn Rothes.

Stirling Distillery – Khi whisky trở lại dưới chân lâu đài Stirling sau hơn 170 năm
Ngay dưới chân Stirling Castle, giữa khu phố cổ mang đậm dấu ấn lịch sử Scotland, một nhà chưng cất nhỏ đang viết tiếp câu chuyện từng bị gián đoạn hơn một thế kỷ. Stirling Distillery không có quy mô lớn, nhưng vị trí, lịch sử và hành trình đưa whisky trở lại thành phố Stirling khiến nơi đây trở thành một điểm đáng chú ý trên bản đồ whisky Scotland.

Kininvie Distillery – Nhà chưng cất Speyside kín tiếng của William Grant & Sons
Kininvie Distillery là nhà chưng cất Single Malt Scotch Whisky nằm tại Dufftown, Moray, Scotland, thuộc vùng whisky Speyside. Được William Grant & Sons xây dựng năm 1990, Kininvie có vị trí đặc biệt khi nằm ngay trong khu vực của The Balvenie Distillery và gần Glenfiddich – hai nhà chưng cất nổi tiếng cùng thuộc tập đoàn gia đình William Grant & Sons.

Auchentoshan Distillery – Nhà chưng cất whisky Lowland hơn 200 năm bên Glasgow, Scotland
Auchentoshan Distillery là nhà chưng cất Scotch whisky nằm tại Clydebank, ở phía tây bắc Glasgow, Scotland. Nhà chưng cất có lịch sử chính thức từ năm 1823 và ngày nay được biết đến đặc biệt với phương pháp chưng cất ba lần – Triple Distillation, tạo nên phong cách nhẹ, tươi và mềm mại đặc trưng của Auchentoshan Single Malt Scotch Whisky.

Nằm tại số 100 Trần Hưng Đạo, Giáo xứ Hải Dương thuộc Giáo hạt Hải Dương, Giáo phận Hải Phòng là một cộng đoàn Công giáo lâu đời giữa vùng đất Hải Dương. Ngôi nhà thờ được ghi nhận xây dựng từ năm 1875, hiện diện giữa khu vực trung tâm đô thị và gắn với một vùng đất có vị trí đặc biệt trong lịch sử Công giáo miền Đông Bắc. Không xa nhà thờ là Đền Thánh Tử Đạo Hải Dương, nơi lưu dấu cuộc tử đạo năm 1861 của các chứng nhân đức tin sau này được Giáo hội tuyên phong hiển thánh.

Giữa khu vực nội thành Hải Phòng, trên trục đường Lạch Tray đông đúc, Giáo xứ Hàng Kênh thuộc Giáo hạt Chính Tòa, Giáo phận Hải Phòng là một cộng đoàn Công giáo có lịch sử hơn một thế kỷ. Hàng Kênh được thành lập với tư cách giáo họ từ năm 1893, từng trực thuộc Giáo xứ Nam Pháp trước khi chính thức được nâng lên hàng giáo xứ năm 2020. Từ một giáo họ lâu đời giữa lòng thành phố, Hàng Kênh ngày nay vừa phục vụ cộng đoàn địa phương, vừa trở thành điểm quy tụ của nhiều người Công giáo từ các nơi đến Hải Phòng sinh sống và làm việc.

Giữa vùng đồng bằng được nhận diện bằng những con kinh mang số, Giáo xứ Truyền Tin nằm bên Kinh 8A, thuộc Giáo hạt Tân Thạnh, Giáo phận Long Xuyên. Trước đây, địa chỉ quen thuộc của nhà thờ là Thạnh Đông A, huyện Tân Hiệp, tỉnh Kiên Giang; sau thay đổi địa giới hành chính, khu vực này thuộc xã Thạnh Đông, tỉnh An Giang. Tên gọi Kinh 8A vẫn còn đó, gắn nhà thờ với một không gian rất đặc trưng của miền Tây: những con kinh thẳng dài, ruộng lúa và các xóm dân cư hình thành dọc hai bên bờ nước.

Giữa một vùng ven biển vốn được hình dung bằng những bãi cát thấp và Biển Đông, Khu bảo tồn thiên nhiên Bình Châu – Phước Bửu còn có những điểm địa hình cao hơn nằm trong rừng. Tầm Bồ là một trong số đó. Với độ cao khoảng 114 m, nơi đây không phải một ngọn núi lớn, nhưng đủ để mở ra một góc nhìn khác về vùng đất: từ rừng nhìn về phía dải biển Hồ Cốc – Hồ Tràm.Câu chuyện của Tầm Bồ vì thế không nằm ở độ cao. Điều đáng chú ý là vị trí của một điểm cao giữa khu rừng tự nhiên nằm rất gần biển.

Ở phía biển của Bình Châu có một khoảng cửa nước nối không gian phía trong với Biển Đông. Trên bản đồ địa danh biển Việt Nam, nơi này mang tên Cửa Bình Châu. Gần đó là Đầm Bình Châu, cảng cá, khu neo đậu tàu thuyền và những công trình phục vụ hoạt động nghề biển.

Trên hành trình từ vùng đất phía trong Đông Nam Bộ về cửa biển Lộc An, sông Ray đi qua một công trình đã làm thay đổi đáng kể cảnh quan và vai trò của dòng nước: Hồ Sông Ray. Với dung tích hơn 215 triệu m³, đây không đơn thuần là một mặt hồ rộng giữa vùng nông nghiệp mà là một hồ chứa có vai trò quan trọng đối với nguồn nước của cả khu vực.

Trước khi gặp Biển Đông tại Lộc An, nước của sông Ray đã đi qua một hành trình dài từ vùng đất phía trong của Đông Nam Bộ. Dòng sông đi qua địa bàn Đồng Nai, tiếp tục chảy về phía nam, qua hồ chứa Sông Ray rồi cuối cùng mở ra vùng cửa biển Lộc An. Nếu nhìn Lộc An từ phía biển, sông Ray là dòng nước đi đến điểm kết thúc; nhưng nếu lần ngược dòng, đó lại là một câu chuyện kéo dài qua nhiều vùng đất.

Ở phía biển của xã Bình Châu, những con tàu đánh cá, bến neo đậu và hoạt động mua bán thủy sản tạo nên một diện mạo rất khác với rừng hay suối khoáng nóng thường được nhắc đến khi nói về vùng đất này. Nơi người dân quen gọi là Cảng cá Bình Châu cũng gắn với tên Bến Lội trong các tài liệu quản lý nghề cá, lưu giữ một phần đời sống biển đã hình thành và tiếp diễn qua nhiều năm.

Giữa vùng rừng ven biển Bình Châu, có một hiện tượng tự nhiên đã khiến tên Bình Châu được biết đến từ rất lâu trước khi những khu nghỉ dưỡng hiện đại xuất hiện: nước nóng từ lòng đất. Hàng chục điểm nước khoáng nóng lộ thiên, có nơi đạt nhiệt độ khoảng 80°C, tạo nên một không gian đặc biệt giữa rừng, cách Biển Đông không xa.