Đang tải bài viết…
Đang tải bài viết…
Nhà thờ Giáo xứ Phanxicô Xaviê là một nhà thờ Công giáo lâu đời thuộc Giáo hạt Thành phố Huế, Tổng Giáo phận Huế, tọa lạc tại 18 Nguyễn Tri Phương, phường Thuận Hóa, thành phố Huế.
Giáo xứ được thành lập vào tháng 01/1911 bởi các linh mục thuộc Hội Thừa sai Paris (MEP), ban đầu mang tên Giáo xứ Huế. Do thời kỳ đầu có đông người Pháp đến tham dự phụng vụ, người dân địa phương còn quen gọi nơi đây là “Giáo xứ Tây” hay “Nhà thờ Tây”.
Ngôi nhà thờ hiện nay được khởi công năm 1914, hoàn thành sau bốn năm và khánh thành ngày 15/08/1918. Trải qua hơn một thế kỷ với nhiều biến động lịch sử, đặc biệt là những hư hại nặng trong Tết Mậu Thân 1968, công trình vẫn được gìn giữ, phục hồi và tiếp tục là một dấu ấn kiến trúc Công giáo giữa trung tâm Huế.
Tháng 01/1911, giáo xứ được thành lập với tên gọi ban đầu là Giáo xứ Huế.
Linh mục quản xứ tiên khởi là Jean Léculier (Cố Lựu), thành viên Hội Thừa sai Paris. Trong thời kỳ đầu, cộng đoàn có khá đông người Pháp đang sinh sống và làm việc tại Huế đến tham dự phụng vụ.
Chính vì vậy, trong dân gian dần xuất hiện tên gọi “Giáo xứ Tây”.
Trước khi có nhà thờ riêng, một cơ sở của trường Jeanne d’Arc do các nữ tu Dòng Thánh Phaolô phụ trách được sử dụng tạm thời làm nơi sinh hoạt cho cộng đoàn.
Sau khi giáo xứ được thành lập, cha Jean Léculier mua khu đất để xây dựng một ngôi thánh đường riêng.
Năm 1914, công trình chính thức được khởi công trên đường Courbet, nay là đường Nguyễn Tri Phương.
Đây cũng là thời điểm Thế chiến thứ nhất bắt đầu. Mặc dù điều kiện xã hội có nhiều khó khăn, việc xây dựng vẫn được tiếp tục.
Ông Hội Nghi, một nhà thầu Công giáo, đảm nhiệm việc thi công công trình.
Sau bốn năm xây dựng, ngôi thánh đường được hoàn thành.
Ngày 15/08/1918, đúng lễ Đức Mẹ Hồn Xác Lên Trời, nhà thờ được Đức cha Eugène-Marie-Joseph Allys (Đức cha Lý) làm phép và khánh thành.
Từ đây, cộng đoàn có một ngôi thánh đường chính thức thay cho địa điểm sinh hoạt tạm thời trước đó.
Nhà thờ phục vụ cả người Việt và cộng đồng người châu Âu sinh sống tại Huế. Trong một thời gian dài, mỗi Chúa nhật còn có Thánh lễ bằng tiếng Pháp.
Năm 1922, linh mục François Arsène Lemasle (Cố Lễ) được bổ nhiệm kế nhiệm cha Jean Léculier.
Do có lòng sùng kính đặc biệt đối với Thánh Phanxicô Xaviê, cha Lemasle đổi tên Giáo xứ Huế thành Giáo xứ Phanxicô Xaviê.
Trong một thời gian, cả hai tên Giáo xứ Huế và Giáo xứ Phanxicô Xaviê vẫn được sử dụng song song.
Về sau, tên Giáo xứ Phanxicô Xaviê trở thành tên chính thức và được duy trì cho đến ngày nay.
Đến thời linh mục Louis Paul Darbon (Cố Triết) làm quản xứ từ năm 1931, nhà thờ tiếp tục được mở rộng.
Công trình được bổ sung thêm hai cánh, phòng thánh và tháp chuông, tạo nên một ngôi thánh đường có quy mô lớn và hoàn chỉnh hơn.
Không gian bên trong mang ảnh hưởng kiến trúc phương Tây với hai hàng cột và những vòm cong chạy dọc hai bên.
Trần nhà thờ bằng gỗ, cao và thoáng, sử dụng các họa tiết trang trí tương đối giản dị.
Những yếu tố này tạo nên diện mạo đặc trưng của Nhà thờ Phanxicô Xaviê trong giai đoạn trước năm 1968.
Từ giữa thế kỷ XX, Giáo xứ Phanxicô Xaviê bước vào một giai đoạn phát triển đáng kể.
Trong thời linh mục Simon Nguyễn Văn Lập làm quản xứ từ năm 1955 đến 1958, số giáo dân từng tăng lên gần 3.000 người.
Nhiều trí thức, giáo sư Công giáo và các gia đình sống tại khu vực trung tâm Huế tham gia sinh hoạt tại giáo xứ.
Các hội đoàn cũng phát triển, góp phần tạo nên một cộng đoàn khá sôi động trong giai đoạn này.
Một chi tiết lịch sử đáng chú ý là trong giai đoạn 1954–1955, linh mục trẻ Phanxicô Xaviê Nguyễn Văn Thuận từng phục vụ tại đây với vai trò phó xứ.
Ngài sau này trở thành Tổng Giám mục, Chủ tịch Hội đồng Giáo hoàng Công lý và Hòa bình tại Vatican và được Đức Giáo hoàng Phanxicô công nhận là Đấng Đáng Kính năm 2017.
Trong thời gian phục vụ tại Giáo xứ Phanxicô Xaviê, cha Nguyễn Văn Thuận cũng tham gia nhiều công việc mục vụ và đóng góp cho việc trang trí, hoàn thiện không gian nhà thờ.
Một trong những biến cố lớn nhất của Nhà thờ Phanxicô Xaviê diễn ra trong Tết Mậu Thân năm 1968.
Sáng mùng 2 Tết, một vụ nổ khiến tháp chuông nhà thờ sụp đổ. Ba quả chuông trên tháp cũng rơi xuống.
Khoảng một giờ sau, nhà thờ tiếp tục bị ảnh hưởng bởi các cuộc giao tranh, khiến khoảng một nửa công trình bị phá hủy.
Chiếc đàn ống từng được sử dụng trong nhà thờ cũng bị phá hỏng.
Do thánh đường không còn khả năng sử dụng bình thường, nhà kho Caritas được dùng tạm làm nơi sinh hoạt của cộng đoàn.
Từ năm 1969, linh mục Philipphê Nguyễn Như Danh bắt đầu sửa chữa phần nhà thờ còn lại.
Mái được lợp lại, trần được gia cố để công trình có thể tiếp tục phục vụ cộng đoàn.
Tuy nhiên, tháp chuông đã bị phá hủy trong năm 1968 chưa thể được phục dựng ngay.
Trong nhiều thập niên sau đó, việc khôi phục lại hình dáng ban đầu của nhà thờ vẫn là mong muốn của cộng đoàn.
Tháng 06/2005, linh mục Gioakim Lê Thanh Hoàng được bổ nhiệm làm quản xứ.
Thời điểm này, nhà thờ đã xuống cấp khá nghiêm trọng sau nhiều năm sử dụng.
Công cuộc đại trùng tu được tiến hành từ tháng 08/2007 đến cuối năm 2008 với nhiều hạng mục: lợp lại mái, xây dựng lại tháp, sửa tường, sơn trần và nội ngoại thất, lát lại sàn, chỉnh trang cung thánh, phục hồi hệ thống cửa lớn và cửa sổ.
Điểm đáng chú ý là các hạng mục được thực hiện theo hướng phục chế dựa trên nguyên mẫu kiến trúc trước đây.
Nhờ đợt đại tu này, diện mạo đặc trưng của Nhà thờ Phanxicô Xaviê được khôi phục sau nhiều thập niên kể từ biến cố năm 1968.
Nhà thờ Phanxicô Xaviê mang những đặc trưng rõ nét của kiến trúc nhà thờ phương Tây đầu thế kỷ XX.
Mặt tiền nổi bật với tháp chuông vươn cao, các cửa vòm và hệ thống đường nét theo phương đứng.
Không gian bên trong sử dụng hai hàng cột uốn vòm, chia thánh đường thành khu vực trung tâm và hai phần bên.
Phần trần bằng gỗ được thiết kế cao, tạo cảm giác thoáng cho không gian.
Đặc biệt, tư liệu của giáo xứ ghi nhận 22 cột trụ trong nhà thờ được xây hoàn toàn bằng gạch, không có lõi sắt bên trong. Những cột này vẫn tồn tại qua nhiều biến động của công trình.
Năm 1958, nhân kỷ niệm 100 năm Đức Mẹ hiện ra tại Lộ Đức, linh mục Giuse Ngô Văn Trọng cho xây dựng hang đá Đức Mẹ Lộ Đức trong khuôn viên nhà thờ.
Hang đá nằm phía bên trái sân nhà thờ, dưới một cây sanh cổ thụ.
Công trình trở thành một phần quen thuộc của cảnh quan Giáo xứ Phanxicô Xaviê và vẫn được gìn giữ qua nhiều giai đoạn.
Giáo xứ nhận Thánh Phanxicô Xaviê làm bổn mạng, kính ngày 03/12 hằng năm.
Thông tin này tiếp tục được Tổng Giáo phận Huế xác nhận trong lễ bổn mạng Giáo xứ ngày 03/12/2025.
Tên vị thánh cũng đã gắn với giáo xứ hơn một thế kỷ, kể từ khi cha François Arsène Lemasle đổi tên Giáo xứ Huế thành Giáo xứ Phanxicô Xaviê năm 1922.
Giáo xứ hiện thuộc Giáo hạt Thành phố Huế, Tổng Giáo phận Huế.
Theo thống kê năm 2025, giáo xứ có khoảng 380 giáo dân, được chia thành ba khu vực: Kitô Vua, Thánh Giuse và Đức Mẹ.
Từ tháng 09/2025, linh mục Phêrô Nguyễn Vũ được bổ nhiệm làm quản xứ. Đến đợt bổ nhiệm linh mục tháng 07/2026, Tổng Giáo phận tiếp tục ghi nhận Giáo xứ Phanxicô Xaviê trong cơ cấu hiện hành; linh mục Giuse Nguyễn Ngọc Tân được bổ nhiệm làm phó xứ.
Nhà thờ Giáo xứ Phanxicô Xaviê có lịch sử hơn một thế kỷ và gắn với nhiều giai đoạn biến động của thành phố Huế.
Từ một giáo xứ được thành lập để phục vụ cộng đồng người Pháp và người Công giáo tại Huế năm 1911, nơi đây từng phát triển thành một cộng đoàn đông đảo vào giữa thế kỷ XX.
Ngôi nhà thờ trải qua chiến tranh, bị phá hủy một phần năm 1968, sau đó nhiều lần sửa chữa và cuối cùng được đại trùng tu theo nguyên mẫu trong giai đoạn 2007–2008.
Ngày nay, dù số giáo dân không còn đông như trước, Nhà thờ Phanxicô Xaviê vẫn là một công trình Công giáo có giá trị lịch sử và kiến trúc đáng chú ý tại khu vực trung tâm Huế.
Tên: Nhà thờ Giáo xứ Phanxicô Xaviê
Tên thường gọi: Nhà thờ Phanxicô Xaviê, Nhà thờ Tây
Tên giáo xứ ban đầu: Giáo xứ Huế
Giáo xứ: Giáo xứ Phanxicô Xaviê
Giáo hạt: Giáo hạt Thành phố Huế
Giáo phận: Tổng Giáo phận Huế
Bổn mạng: Thánh Phanxicô Xaviê
Ngày kính: 03/12
Địa chỉ: 18 Nguyễn Tri Phương, phường Thuận Hóa, thành phố Huế
Thành lập giáo xứ: Tháng 01/1911
Quản xứ tiên khởi: Linh mục Jean Léculier (Cố Lựu) – MEP
Khởi công nhà thờ: 1914
Khánh thành: 15/08/1918
Đổi tên Giáo xứ Phanxicô Xaviê: 1922
Hư hại nặng: Tết Mậu Thân 1968
Đại trùng tu: 08/2007 – cuối năm 2008
Quản xứ hiện nay: Linh mục Phêrô Nguyễn Vũ
Giáo dân: Khoảng 380 người (2025)
Các khu vực: Kitô Vua, Thánh Giuse, Đức Mẹ
Loại hình: Nhà thờ Công giáo – công trình tôn giáo, lịch sử, kiến trúc và sinh hoạt cộng đồng.

Chành xe Tô Châu – Quốc lộ 54, Bình Minh, Vĩnh Long
Cầu vượt Quốc lộ 54, Tổ 22, Khóm Đông Thuận, Phường Đông Thành, Tỉnh Vĩnh Long

Chành xe Tô Châu – 501 Nguyễn Đáng, Trà Vinh, Vĩnh Long
501 Nguyễn Đáng, Khóm 20, Phường Trà Vinh, Tỉnh Vĩnh Long

Chành xe Tô Châu – Điểm phát hàng 78 Đường 3 Tháng 2, Tân Thành, Cà Mau
78 Đường 3 tháng 2, Phường Tân Thành, Tỉnh Cà Mau

Chành xe Tô Châu – 21 Nguyễn Phúc Chu, Hà Tiên, An Giang
21 Nguyễn Phúc Chu, Khu phố 4, Phường Hà Tiên, Tỉnh An Giang

Chành xe Tô Châu – 829 Khu phố Minh An, Châu Thành, An Giang
829 Khu phố Minh An, Xã Châu Thành, Tỉnh An Giang

Ai đang giữ những ký ức nằm ngoài các kho lưu trữ lớn?
Khi nói đến lưu trữ, chúng ta thường nghĩ đến những trung tâm lớn với hàng triệu trang tài liệu được kiểm kê và bảo quản chuyên nghiệp. Nhưng ký ức của một đất nước còn nằm ở rất nhiều nơi khác: trong nhà thờ họ, phòng truyền thống của trường học, tủ hồ sơ của một doanh nghiệp, kho tư liệu của cơ sở tôn giáo, những chiếc rương cũ và album ảnh trong mỗi gia đình. Một phần đáng kể ký ức xã hội vì thế đang được gìn giữ bởi những con người mà chính họ đôi khi cũng chưa nghĩ mình là người đang giữ tư liệu.

Luật Lưu trữ và tài liệu số – khi ký ức bước vào một không gian pháp lý mới
Một tài liệu từng chỉ tồn tại trên giấy nay có thể được tạo thành bản số, đưa vào cơ sở dữ liệu, tìm kiếm và sử dụng trên môi trường điện tử. Nhưng khi tài liệu bước từ chiếc tủ hồ sơ sang thế giới dữ liệu, một câu hỏi mới xuất hiện: bản số có giá trị thế nào, phải được lưu giữ ra sao và làm thế nào để nhiều năm sau vẫn xác định được nguồn gốc, tính toàn vẹn của nó? Luật Lưu trữ năm 2024 cho thấy pháp luật Việt Nam đang nhìn tài liệu số không còn như một phần phụ của tài liệu giấy, mà như một thành phần ngày càng quan trọng của hoạt động lưu trữ trong thời đại số.

Từ Hán Nôm đến thư viện số – những bài học từ hành trình số hóa tư liệu ở Việt Nam
Một kho tư liệu hàng trăm năm tuổi không thể bước vào thế giới số chỉ bằng việc đặt từng trang lên máy scan. Thực tế số hóa tại Việt Nam trong nhiều năm qua cho thấy phía sau mỗi bản số còn là câu chuyện về bảo tồn bản gốc, chất lượng hình ảnh, thông tin mô tả, khả năng tra cứu và cách dữ liệu tiếp tục được lưu giữ khi công nghệ thay đổi. Nhìn vào những trường hợp như thư tịch Hán Nôm, thư viện và Mộc bản triều Nguyễn, có thể thấy số hóa thực chất là một hành trình dài hơn rất nhiều so với việc tạo ra một file ảnh hay PDF.

Việt Nam đã đi đến đâu trên hành trình số hóa tư liệu?
Số hóa tư liệu ở Việt Nam không phải câu chuyện mới bắt đầu cùng làn sóng chuyển đổi số những năm gần đây. Từ cuối thập niên 1990, một số cơ quan nghiên cứu đã sử dụng công nghệ để sao lưu và khai thác những kho tư liệu quý. Sau hơn hai thập niên, từ thư tịch Hán Nôm, tài liệu lưu trữ đến sách, báo, luận án và nhiều bộ sưu tập khác đã từng bước bước vào môi trường số. Tuy vậy, giữa những dự án lớn đã được triển khai và khối lượng tư liệu còn nằm trong kho, tổ chức, cộng đồng và gia đình vẫn là một khoảng cách rất dài.

Khi một tài liệu biến mất, chúng ta thực sự mất điều gì?
Một cuốn sổ bị bỏ đi, một tập hồ sơ thất lạc hay một album ảnh hư hỏng đôi khi chỉ được nhìn như sự mất đi của vài món đồ cũ. Nhưng tài liệu khác với nhiều đồ vật thông thường ở chỗ nó mang theo thông tin về con người, sự kiện và thời gian. Khi bản duy nhất biến mất, có những câu chuyện cũng có thể mất theo mà không còn cách nào khôi phục đầy đủ.

Danh sách phường và xã Thành phố Đồng Nai (từ 30/04/2026)
Từ ngày 30/04/2026, Đồng Nai chính thức chuyển sang mô hình thành phố trực thuộc Trung ương, toàn bộ hệ thống đơn vị hành chính cấp cơ sở được tổ chức lại thành 95 phường và xã. Đây là dữ liệu nền quan trọng giúp người dân, doanh nghiệp và hệ thống Mapstore tra cứu địa chỉ, đối chiếu địa danh và cập nhật thông tin theo cấu trúc hành chính mới của Việt Nam.

Phường Tân Thuận Đông, Quận 7 sau sáp nhập là phường nào?
Thông tin tra cứu nhanh Tên phường cũ: Phường Tân Thuận Đông, Quận 7 (TP Hồ Chí Minh – trước 01/07/2025) Phường mới hiện nay: Phường Tân Thuận, TP Hồ Chí Minh Cơ quan hành chính: Ủy ban nhân dân phường Tân Thuận Mã số thuế: 0319034772 Địa chỉ: 342 Huỳnh Tấn Phát, Phường Tân Thuận, TP Hồ Chí Minh, Việt Nam

Nhà thờ Giáo xứ Lãng Vân – Một dấu ấn kiến trúc và lịch sử của vùng Phát Diệm
Nhà thờ Giáo xứ Lãng Vân tọa lạc tại xã Gia Vân, huyện Gia Viễn, tỉnh Ninh Bình. Đây là một trong những thánh đường có quy mô lớn của Giáo phận Phát Diệm, đồng thời là địa điểm mang giá trị văn hóa và lịch sử đặc trưng của vùng Công giáo truyền thống. Giáo xứ được thành lập từ năm 1885, gắn liền với hành trình hình thành và phát triển đức tin của cộng đoàn sinh sống tại khu vực này.

Phường 13, Quận 6 sau sáp nhập là phường nào?
Thông tin tra cứu nhanh Tên phường cũ: Phường 13, Quận 6 (TP Hồ Chí Minh – trước 01/07/2025) Phường mới hiện nay: Phường Phú Lâm, TP Hồ Chí Minh Cơ quan hành chính: Mã số thuế: 0319110423 Địa chỉ: 241/3 Tân Hòa Đông, Phường Phú Lâm, TP Hồ Chí Minh, Việt Nam

Phường Bến Nghé sau sáp nhập là phường nào?
Thông tin tra cứu nhanh Tên phường cũ: Phường Bến NghéĐơn vị hành chính hiện nay: Phường Sài Gòn, Thành phố Hồ Chí MinhNghị quyết sắp xếp: Nghị quyết số 1685/NQ-UBTVQH15 ngày 16/06/2025 của Ủy ban Thường vụ Quốc hộiThời điểm áp dụng: Từ ngày 01/07/2025

Khi nói đến lưu trữ, chúng ta thường nghĩ đến những trung tâm lớn với hàng triệu trang tài liệu được kiểm kê và bảo quản chuyên nghiệp. Nhưng ký ức của một đất nước còn nằm ở rất nhiều nơi khác: trong nhà thờ họ, phòng truyền thống của trường học, tủ hồ sơ của một doanh nghiệp, kho tư liệu của cơ sở tôn giáo, những chiếc rương cũ và album ảnh trong mỗi gia đình. Một phần đáng kể ký ức xã hội vì thế đang được gìn giữ bởi những con người mà chính họ đôi khi cũng chưa nghĩ mình là người đang giữ tư liệu.

Một tài liệu từng chỉ tồn tại trên giấy nay có thể được tạo thành bản số, đưa vào cơ sở dữ liệu, tìm kiếm và sử dụng trên môi trường điện tử. Nhưng khi tài liệu bước từ chiếc tủ hồ sơ sang thế giới dữ liệu, một câu hỏi mới xuất hiện: bản số có giá trị thế nào, phải được lưu giữ ra sao và làm thế nào để nhiều năm sau vẫn xác định được nguồn gốc, tính toàn vẹn của nó? Luật Lưu trữ năm 2024 cho thấy pháp luật Việt Nam đang nhìn tài liệu số không còn như một phần phụ của tài liệu giấy, mà như một thành phần ngày càng quan trọng của hoạt động lưu trữ trong thời đại số.

Một kho tư liệu hàng trăm năm tuổi không thể bước vào thế giới số chỉ bằng việc đặt từng trang lên máy scan. Thực tế số hóa tại Việt Nam trong nhiều năm qua cho thấy phía sau mỗi bản số còn là câu chuyện về bảo tồn bản gốc, chất lượng hình ảnh, thông tin mô tả, khả năng tra cứu và cách dữ liệu tiếp tục được lưu giữ khi công nghệ thay đổi. Nhìn vào những trường hợp như thư tịch Hán Nôm, thư viện và Mộc bản triều Nguyễn, có thể thấy số hóa thực chất là một hành trình dài hơn rất nhiều so với việc tạo ra một file ảnh hay PDF.

Số hóa tư liệu ở Việt Nam không phải câu chuyện mới bắt đầu cùng làn sóng chuyển đổi số những năm gần đây. Từ cuối thập niên 1990, một số cơ quan nghiên cứu đã sử dụng công nghệ để sao lưu và khai thác những kho tư liệu quý. Sau hơn hai thập niên, từ thư tịch Hán Nôm, tài liệu lưu trữ đến sách, báo, luận án và nhiều bộ sưu tập khác đã từng bước bước vào môi trường số. Tuy vậy, giữa những dự án lớn đã được triển khai và khối lượng tư liệu còn nằm trong kho, tổ chức, cộng đồng và gia đình vẫn là một khoảng cách rất dài.

Một cuốn sổ bị bỏ đi, một tập hồ sơ thất lạc hay một album ảnh hư hỏng đôi khi chỉ được nhìn như sự mất đi của vài món đồ cũ. Nhưng tài liệu khác với nhiều đồ vật thông thường ở chỗ nó mang theo thông tin về con người, sự kiện và thời gian. Khi bản duy nhất biến mất, có những câu chuyện cũng có thể mất theo mà không còn cách nào khôi phục đầy đủ.

Lịch sử của một đất nước không chỉ được lưu lại trong sử sách. Qua nhiều thế hệ, người Việt đã để lại một lượng tư liệu rất lớn trên mộc bản, văn bản hành chính, sách, báo, bản đồ, gia phả, thư từ, sổ sách và những bức ảnh gia đình. Mỗi loại tư liệu giữ một phần câu chuyện khác nhau, từ những biến chuyển của quốc gia đến đời sống của từng cộng đồng và mỗi con người.

Một cuốn sổ cũ, một tập thư, một tấm bản đồ, một cuốn gia phả hay những bức ảnh đã bạc màu có thể chỉ là những đồ vật quen thuộc trong một gia đình hoặc tổ chức. Nhưng khi thời gian đi qua, những gì được ghi lại trên đó có thể trở thành bằng chứng về con người, vùng đất và một giai đoạn lịch sử. Giá trị của tư liệu vì thế không phải lúc nào cũng được nhận ra ngay ở thời điểm nó được tạo ra.

Công nghệ số mới hiện diện trong một phần rất ngắn của lịch sử, trong khi hàng trăm, hàng nghìn năm trước đó, ký ức của con người đã được ghi lại trên giấy, sách, ảnh, bản đồ và nhiều vật mang tin khác. Khi xã hội bước vào thời đại dữ liệu, một câu hỏi đáng suy nghĩ được đặt ra: làm thế nào để những tư liệu được tạo ra trước thời đại số tiếp tục được gìn giữ, tìm kiếm và truyền lại cho những thế hệ sau?

Nhà thờ Chính tòa Bùi Chu là nhà thờ chính tòa và được xem như nhà thờ mẹ của Giáo phận Bùi Chu, tọa lạc tại vùng đất Bùi Chu, Xuân Trường, Nam Định trước đây.Không chỉ là trung tâm phụng vụ của Giáo phận, Bùi Chu còn là một trong những địa danh Công giáo có lịch sử lâu đời ở miền Bắc Việt Nam. Vùng đất này đón nhận Tin Mừng từ thế kỷ XVII, trở thành nơi đặt Tòa Giám mục và chứng kiến nhiều giai đoạn quan trọng trong lịch sử hình thành, phát triển của Giáo phận Bùi Chu.