Đang tải bài viết…
Đang tải bài viết…
Trên sườn Núi Lớn hướng về phía biển, Thích Ca Phật Đài trải rộng giữa địa hình tự nhiên với chùa, tượng Phật và những công trình kể lại cuộc đời Đức Phật Thích Ca. Được hình thành vào đầu thập niên 1960, nơi đây không chỉ là một điểm hành hương mà còn cho thấy một cách con người đưa kiến trúc và câu chuyện Phật giáo vào chính cảnh quan của ngọn Tương Kỳ.
Thích Ca Phật Đài nằm trên sườn Núi Lớn, còn gọi là núi Tương Kỳ, trong không gian phía tây của Vũng Tàu. Quần thể có diện tích gần 3 ha, dựa theo địa hình dốc tự nhiên của núi thay vì tập trung các công trình trên một mặt bằng duy nhất.
Câu chuyện hình thành nơi đây gắn với Đại đức Narada Maha Thera, một nhà sư đến từ Sri Lanka. Công trình được khởi dựng vào tháng 7/1961 và hoàn thành vào tháng 3/1963. Từ một không gian Phật giáo trên núi, Thích Ca Phật Đài dần trở thành một thắng tích quen thuộc của Vũng Tàu.
Điều tạo nên nét riêng của nơi này nằm ngay ở cách quần thể được đặt vào Núi Lớn. Càng đi lên cao, không gian đô thị phía dưới dần lùi lại; cây xanh, sườn núi và những công trình Phật giáo lần lượt xuất hiện theo hành trình.
Núi vì thế không chỉ làm nền cho kiến trúc. Địa hình trở thành một phần của cách người ta tiếp cận và cảm nhận toàn bộ thắng tích.
Thích Ca Phật Đài không được tổ chức quanh một pho tượng duy nhất.
Trong quần thể có Thiền Lâm Tự, các tượng và công trình tái hiện những chặng đường trong cuộc đời Đức Phật, từ khi Thái tử Tất Đạt Đa rời hoàng cung tìm con đường giải thoát cho đến quá trình tu hành, giác ngộ và nhập Niết bàn.
Nổi bật giữa không gian trên sườn núi là tượng Đức Phật Thích Ca ngồi trên tòa sen. Toàn bộ tượng và bệ cao khoảng 10 m, trong đó phần kim thân Đức Phật cao khoảng 6 m. Ở khu vực cao hơn còn có tượng Phật nhập Niết bàn dài khoảng 12 m.
Các công trình được bố trí thành nhiều điểm trên triền núi, khiến việc đi qua Thích Ca Phật Đài cũng là quá trình lần theo một câu chuyện. Mỗi pho tượng không đứng riêng như một tác phẩm trang trí mà góp một phần vào mạch kể về hành trình của Đức Phật.
Nhờ cách tổ chức ấy, câu chuyện tôn giáo được chuyển thành không gian. Người đến đây không chỉ nhìn thấy một công trình Phật giáo mà có thể đi qua từng lớp cảnh quan để tiếp cận những dấu mốc khác nhau của câu chuyện được kể trên núi.
Bên cạnh hệ thống tượng, Thích Ca Phật Đài còn lưu giữ những yếu tố mang ý nghĩa đặc biệt trong đời sống Phật giáo. Tư liệu về di tích ghi nhận nơi đây tôn thờ 16 viên xá lợi và có nhánh cây Bồ đề gắn với truyền thống Phật giáo.
Những yếu tố ấy khiến Thích Ca Phật Đài không đơn thuần là một thắng cảnh có kiến trúc Phật giáo.
Với người hành hương, đây trước hết là một không gian tín ngưỡng. Việc đi từ chân núi lên những công trình phía trên mang một nhịp khác với việc tham quan một điểm đến thông thường. Cảnh quan thiên nhiên, tượng Phật, nơi thờ tự và những khoảng dừng trên đường cùng tạo thành một hành trình hướng lên sườn Núi Lớn.
Thích Ca Phật Đài đã được xếp hạng di tích quốc gia và tiếp tục được bảo tồn như một phần di sản văn hóa của vùng đất Vũng Tàu.
Núi Lớn lưu giữ nhiều dấu vết rất khác nhau của Vũng Tàu.
Ở một phía là Bạch Dinh với những lớp lịch sử từ cuối thế kỷ XIX. Trên núi còn có các dấu tích quân sự và trận địa pháo. Men theo phía Bãi Dâu lại xuất hiện những không gian Công giáo hướng ra biển.
Thích Ca Phật Đài bổ sung vào ngọn núi một lớp khác: không gian Phật giáo.
Điều đáng chú ý là lớp không gian ấy không xóa đi địa hình tự nhiên. Ngược lại, chính sườn núi, độ cao và cây xanh được đưa vào cách tổ chức quần thể. Những công trình lần lượt xuất hiện theo triền dốc, để câu chuyện về Đức Phật được kể không chỉ bằng tượng và kiến trúc mà còn bằng hành trình đi lên núi.
Hơn sáu thập niên kể từ khi công trình được hình thành, Vũng Tàu phía dưới đã thay đổi rất nhiều. Nhưng trên sườn Tương Kỳ, Thích Ca Phật Đài vẫn giữ một nhịp riêng: con đường tiếp tục dẫn lên cao, những pho tượng lần lượt xuất hiện giữa cây xanh, còn phía sau các công trình là Núi Lớn và khoảng biển đã cùng hiện diện từ những ngày đầu hình thành thắng tích.

Chành xe Tô Châu – 460 Lê Hồng Phong
460 Lê Hồng Phong, Phường Vườn Lài, Thành phố Hồ Chí Minh

Chành xe Tô Châu – Thủ Đức
177 Đỗ Mười (QL1A), Phường Tam Bình, Thành phố Hồ Chí Minh

Chành xe Tô Châu – Cầu Vàm Cống
477 QL91, Khu Vực Thới Hòa 1, Phường Thốt Nốt, Thành phố Cần Thơ

Giáo xứ Hải Dương – Giáo hạt Hải Dương, Giáo phận Hải Phòng
100 Trần Hưng Đạo, Phường Lê Thanh Nghị, Thành phố Hải Phòng

Giáo xứ Hàng Kênh, Giáo hạt Chính Tòa, Giáo Phận Hải Phòng
116 Lạch Tray, Phường Lê Chân, Thành phố Hải Phòng

Giáo xứ Hải Dương – Giáo hạt Hải Dương, Giáo phận Hải Phòng
Nằm tại số 100 Trần Hưng Đạo, Giáo xứ Hải Dương thuộc Giáo hạt Hải Dương, Giáo phận Hải Phòng là một cộng đoàn Công giáo lâu đời giữa vùng đất Hải Dương. Ngôi nhà thờ được ghi nhận xây dựng từ năm 1875, hiện diện giữa khu vực trung tâm đô thị và gắn với một vùng đất có vị trí đặc biệt trong lịch sử Công giáo miền Đông Bắc. Không xa nhà thờ là Đền Thánh Tử Đạo Hải Dương, nơi lưu dấu cuộc tử đạo năm 1861 của các chứng nhân đức tin sau này được Giáo hội tuyên phong hiển thánh.

Giáo xứ Hàng Kênh – Giáo hạt Chính Tòa, Giáo phận Hải Phòng
Giữa khu vực nội thành Hải Phòng, trên trục đường Lạch Tray đông đúc, Giáo xứ Hàng Kênh thuộc Giáo hạt Chính Tòa, Giáo phận Hải Phòng là một cộng đoàn Công giáo có lịch sử hơn một thế kỷ. Hàng Kênh được thành lập với tư cách giáo họ từ năm 1893, từng trực thuộc Giáo xứ Nam Pháp trước khi chính thức được nâng lên hàng giáo xứ năm 2020. Từ một giáo họ lâu đời giữa lòng thành phố, Hàng Kênh ngày nay vừa phục vụ cộng đoàn địa phương, vừa trở thành điểm quy tụ của nhiều người Công giáo từ các nơi đến Hải Phòng sinh sống và làm việc.

Giáo xứ Truyền Tin – Giáo hạt Tân Thạnh, Giáo phận Long Xuyên
Giữa vùng đồng bằng được nhận diện bằng những con kinh mang số, Giáo xứ Truyền Tin nằm bên Kinh 8A, thuộc Giáo hạt Tân Thạnh, Giáo phận Long Xuyên. Trước đây, địa chỉ quen thuộc của nhà thờ là Thạnh Đông A, huyện Tân Hiệp, tỉnh Kiên Giang; sau thay đổi địa giới hành chính, khu vực này thuộc xã Thạnh Đông, tỉnh An Giang. Tên gọi Kinh 8A vẫn còn đó, gắn nhà thờ với một không gian rất đặc trưng của miền Tây: những con kinh thẳng dài, ruộng lúa và các xóm dân cư hình thành dọc hai bên bờ nước.

Đỉnh Tầm Bồ – điểm cao giữa rừng Bình Châu – Phước Bửu
Giữa một vùng ven biển vốn được hình dung bằng những bãi cát thấp và Biển Đông, Khu bảo tồn thiên nhiên Bình Châu – Phước Bửu còn có những điểm địa hình cao hơn nằm trong rừng. Tầm Bồ là một trong số đó. Với độ cao khoảng 114 m, nơi đây không phải một ngọn núi lớn, nhưng đủ để mở ra một góc nhìn khác về vùng đất: từ rừng nhìn về phía dải biển Hồ Cốc – Hồ Tràm.Câu chuyện của Tầm Bồ vì thế không nằm ở độ cao. Điều đáng chú ý là vị trí của một điểm cao giữa khu rừng tự nhiên nằm rất gần biển.

Cửa Bình Châu – nơi làng biển mở ra Biển Đông
Ở phía biển của Bình Châu có một khoảng cửa nước nối không gian phía trong với Biển Đông. Trên bản đồ địa danh biển Việt Nam, nơi này mang tên Cửa Bình Châu. Gần đó là Đầm Bình Châu, cảng cá, khu neo đậu tàu thuyền và những công trình phục vụ hoạt động nghề biển.

Aultmore Distillery – Nhà chưng cất whisky giữa vùng Foggie Moss, Speyside, Scotland
Aultmore Distillery là nhà chưng cất Scotch whisky nằm gần thị trấn Keith, thuộc vùng Speyside của Scotland. Được Alexander Edward thành lập và bắt đầu sản xuất năm 1897, Aultmore đã tồn tại hơn 125 năm giữa một khu vực từ lâu gắn với nghề chưng cất whisky.

The Glenrothes Distillery – Nhà chưng cất Speyside từ năm 1879 tại Rothes, Scotland
The Glenrothes Distillery là nhà chưng cất Single Malt Scotch Whisky nằm tại Rothes, Moray, Scotland, ngay trung tâm vùng whisky Speyside. Được thành lập năm 1879, nhà chưng cất trải qua gần 150 năm phát triển và ngày nay là một trong những tên tuổi lâu đời gắn với thị trấn Rothes.

Stirling Distillery – Khi whisky trở lại dưới chân lâu đài Stirling sau hơn 170 năm
Ngay dưới chân Stirling Castle, giữa khu phố cổ mang đậm dấu ấn lịch sử Scotland, một nhà chưng cất nhỏ đang viết tiếp câu chuyện từng bị gián đoạn hơn một thế kỷ. Stirling Distillery không có quy mô lớn, nhưng vị trí, lịch sử và hành trình đưa whisky trở lại thành phố Stirling khiến nơi đây trở thành một điểm đáng chú ý trên bản đồ whisky Scotland.

Kininvie Distillery – Nhà chưng cất Speyside kín tiếng của William Grant & Sons
Kininvie Distillery là nhà chưng cất Single Malt Scotch Whisky nằm tại Dufftown, Moray, Scotland, thuộc vùng whisky Speyside. Được William Grant & Sons xây dựng năm 1990, Kininvie có vị trí đặc biệt khi nằm ngay trong khu vực của The Balvenie Distillery và gần Glenfiddich – hai nhà chưng cất nổi tiếng cùng thuộc tập đoàn gia đình William Grant & Sons.

Auchentoshan Distillery – Nhà chưng cất whisky Lowland hơn 200 năm bên Glasgow, Scotland
Auchentoshan Distillery là nhà chưng cất Scotch whisky nằm tại Clydebank, ở phía tây bắc Glasgow, Scotland. Nhà chưng cất có lịch sử chính thức từ năm 1823 và ngày nay được biết đến đặc biệt với phương pháp chưng cất ba lần – Triple Distillation, tạo nên phong cách nhẹ, tươi và mềm mại đặc trưng của Auchentoshan Single Malt Scotch Whisky.

Nằm tại số 100 Trần Hưng Đạo, Giáo xứ Hải Dương thuộc Giáo hạt Hải Dương, Giáo phận Hải Phòng là một cộng đoàn Công giáo lâu đời giữa vùng đất Hải Dương. Ngôi nhà thờ được ghi nhận xây dựng từ năm 1875, hiện diện giữa khu vực trung tâm đô thị và gắn với một vùng đất có vị trí đặc biệt trong lịch sử Công giáo miền Đông Bắc. Không xa nhà thờ là Đền Thánh Tử Đạo Hải Dương, nơi lưu dấu cuộc tử đạo năm 1861 của các chứng nhân đức tin sau này được Giáo hội tuyên phong hiển thánh.

Giữa khu vực nội thành Hải Phòng, trên trục đường Lạch Tray đông đúc, Giáo xứ Hàng Kênh thuộc Giáo hạt Chính Tòa, Giáo phận Hải Phòng là một cộng đoàn Công giáo có lịch sử hơn một thế kỷ. Hàng Kênh được thành lập với tư cách giáo họ từ năm 1893, từng trực thuộc Giáo xứ Nam Pháp trước khi chính thức được nâng lên hàng giáo xứ năm 2020. Từ một giáo họ lâu đời giữa lòng thành phố, Hàng Kênh ngày nay vừa phục vụ cộng đoàn địa phương, vừa trở thành điểm quy tụ của nhiều người Công giáo từ các nơi đến Hải Phòng sinh sống và làm việc.

Giữa vùng đồng bằng được nhận diện bằng những con kinh mang số, Giáo xứ Truyền Tin nằm bên Kinh 8A, thuộc Giáo hạt Tân Thạnh, Giáo phận Long Xuyên. Trước đây, địa chỉ quen thuộc của nhà thờ là Thạnh Đông A, huyện Tân Hiệp, tỉnh Kiên Giang; sau thay đổi địa giới hành chính, khu vực này thuộc xã Thạnh Đông, tỉnh An Giang. Tên gọi Kinh 8A vẫn còn đó, gắn nhà thờ với một không gian rất đặc trưng của miền Tây: những con kinh thẳng dài, ruộng lúa và các xóm dân cư hình thành dọc hai bên bờ nước.

Giữa một vùng ven biển vốn được hình dung bằng những bãi cát thấp và Biển Đông, Khu bảo tồn thiên nhiên Bình Châu – Phước Bửu còn có những điểm địa hình cao hơn nằm trong rừng. Tầm Bồ là một trong số đó. Với độ cao khoảng 114 m, nơi đây không phải một ngọn núi lớn, nhưng đủ để mở ra một góc nhìn khác về vùng đất: từ rừng nhìn về phía dải biển Hồ Cốc – Hồ Tràm.Câu chuyện của Tầm Bồ vì thế không nằm ở độ cao. Điều đáng chú ý là vị trí của một điểm cao giữa khu rừng tự nhiên nằm rất gần biển.

Ở phía biển của Bình Châu có một khoảng cửa nước nối không gian phía trong với Biển Đông. Trên bản đồ địa danh biển Việt Nam, nơi này mang tên Cửa Bình Châu. Gần đó là Đầm Bình Châu, cảng cá, khu neo đậu tàu thuyền và những công trình phục vụ hoạt động nghề biển.

Trên hành trình từ vùng đất phía trong Đông Nam Bộ về cửa biển Lộc An, sông Ray đi qua một công trình đã làm thay đổi đáng kể cảnh quan và vai trò của dòng nước: Hồ Sông Ray. Với dung tích hơn 215 triệu m³, đây không đơn thuần là một mặt hồ rộng giữa vùng nông nghiệp mà là một hồ chứa có vai trò quan trọng đối với nguồn nước của cả khu vực.

Trước khi gặp Biển Đông tại Lộc An, nước của sông Ray đã đi qua một hành trình dài từ vùng đất phía trong của Đông Nam Bộ. Dòng sông đi qua địa bàn Đồng Nai, tiếp tục chảy về phía nam, qua hồ chứa Sông Ray rồi cuối cùng mở ra vùng cửa biển Lộc An. Nếu nhìn Lộc An từ phía biển, sông Ray là dòng nước đi đến điểm kết thúc; nhưng nếu lần ngược dòng, đó lại là một câu chuyện kéo dài qua nhiều vùng đất.

Ở phía biển của xã Bình Châu, những con tàu đánh cá, bến neo đậu và hoạt động mua bán thủy sản tạo nên một diện mạo rất khác với rừng hay suối khoáng nóng thường được nhắc đến khi nói về vùng đất này. Nơi người dân quen gọi là Cảng cá Bình Châu cũng gắn với tên Bến Lội trong các tài liệu quản lý nghề cá, lưu giữ một phần đời sống biển đã hình thành và tiếp diễn qua nhiều năm.

Giữa vùng rừng ven biển Bình Châu, có một hiện tượng tự nhiên đã khiến tên Bình Châu được biết đến từ rất lâu trước khi những khu nghỉ dưỡng hiện đại xuất hiện: nước nóng từ lòng đất. Hàng chục điểm nước khoáng nóng lộ thiên, có nơi đạt nhiệt độ khoảng 80°C, tạo nên một không gian đặc biệt giữa rừng, cách Biển Đông không xa.