Đang tải bài viết…
Đang tải bài viết…
Trên sườn Núi Lớn hướng về vùng biển phía Cần Giờ, sáu khẩu pháo cổ vẫn nằm theo một vòng cung giữa hệ thống hầm và công sự được xây dựng từ thời Pháp thuộc. Không xa đó là những hầm thủy lôi xuất hiện trong một giai đoạn lịch sử khác. Cùng tồn tại trên một ngọn núi, những dấu tích này cho thấy Núi Lớn từng giữ vị trí quan trọng trong hệ thống phòng thủ cửa biển Vũng Tàu.
Núi Lớn, còn được gọi là núi Tương Kỳ, nằm về phía tây và tây bắc vùng đô thị Vũng Tàu. Từ sườn núi có thể quan sát vùng nước Bãi Trước, Gành Rái và hướng Cần Giờ – nơi các tuyến nước từ biển dẫn vào phía trong.
Chính vị trí ấy khiến Núi Lớn từng được lựa chọn để xây dựng những công trình quân sự.
Trận địa pháo Sao Mai nằm ở độ cao khoảng 100 m so với mực nước biển. Từ đây, tầm nhìn mở rộng về vùng biển phía trước và những hướng tàu thuyền đi qua cửa biển để vào khu vực phía trong.
Khác với những công trình nghỉ dưỡng, tôn giáo hay cảnh quan xuất hiện trên Núi Lớn qua nhiều thời kỳ, trận địa pháo được hình thành từ một cách nhìn hoàn toàn khác về ngọn núi: đây là một điểm cao có khả năng quan sát và kiểm soát vùng nước bên dưới.
Địa hình vì thế trở thành yếu tố quyết định vị trí của công trình.
Trận địa gồm sáu khẩu pháo lớn được bố trí theo hình vòng cung. Khoảng cách giữa các khẩu khoảng 17,5 m, mỗi khẩu có trọng lượng khoảng 15 tấn.
Các khẩu pháo được đặt trên hệ thống bệ cho phép điều chỉnh hướng và tầm bắn. Xung quanh là hầm trú ẩn, công sự và giao thông hào phục vụ hoạt động của trận địa.
Nhìn vào cấu trúc còn lại có thể thấy đây không phải sáu khẩu pháo được đặt độc lập trên núi. Chúng thuộc về một hệ thống quân sự được tổ chức khá hoàn chỉnh.
Để xây dựng công trình trên sườn Núi Lớn, con người phải mở đường, xử lý địa hình, xây hầm và đưa những khối thiết bị rất nặng lên cao. Những dấu tích còn lại vì vậy không chỉ cho thấy quy mô quân sự mà còn phản ánh cách địa hình tự nhiên của ngọn núi đã bị cải tạo để phục vụ mục đích phòng thủ.
Khi chức năng quân sự kết thúc, hệ thống ấy dần trở thành một phần di sản còn lại trên Núi Lớn.
Cách khu vực trận địa pháo khoảng 200 m còn có hai hầm thủy lôi nằm trong một khoảng địa hình kín đáo hơn.
Hai công trình không hình thành cùng một thời điểm.
Nếu trận địa pháo gắn với quá trình xây dựng hệ thống phòng thủ của người Pháp từ cuối thế kỷ XIX, hầm thủy lôi được xây dựng trong thời kỳ Nhật hiện diện tại Vũng Tàu trong Chiến tranh thế giới thứ hai.
Các hầm được xây kiên cố và thông với nhau theo dạng chữ U, sử dụng để lưu giữ thủy lôi phục vụ việc phong tỏa và phòng thủ vùng biển.
Sự xuất hiện của hầm thủy lôi làm câu chuyện Núi Lớn kéo dài qua nhiều giai đoạn lịch sử. Cùng một địa hình chiến lược, những lực lượng khác nhau tiếp tục sử dụng cho mục đích kiểm soát cửa biển.
Sau năm 1945, những quả thủy lôi còn lưu giữ tại đây lại bước sang một câu chuyện khác. Trong thời kỳ kháng chiến, lực lượng cách mạng tại Vũng Tàu đã tìm cách lấy thủy lôi từ các hầm trên Núi Lớn để thu hồi vật liệu nổ phục vụ chiến đấu.
Một công trình được xây dựng để bảo vệ hệ thống quân sự vì thế về sau lại trở thành nguồn vật liệu cho lực lượng chống lại chính những thế lực từng kiểm soát vùng đất.
Trận địa pháo Sao Mai không tồn tại đơn độc.
Ở phía bên kia vùng đô thị, trên Núi Nhỏ – Tao Phùng cũng có một hệ thống trận địa pháo. Gần Bãi Trước còn có trận địa Cầu Đá. Khi đặt các vị trí này trên cùng không gian địa lý, có thể nhận ra một mạng lưới phòng thủ được bố trí quanh những hướng tiếp cận Vũng Tàu từ biển.
Trong mạng lưới ấy, Núi Lớn giữ một vị trí đáng chú ý bởi ngọn núi hướng về Gành Rái và vùng nước phía Cần Giờ.
Ngày nay, cảnh quan Núi Lớn đã mang nhiều lớp ý nghĩa khác nhau. Bạch Dinh kể câu chuyện lịch sử và kiến trúc; Thích Ca Phật Đài tạo nên một không gian Phật giáo trên sườn núi; phía Bãi Dâu lại gắn với đời sống tôn giáo và cảnh quan ven biển.
Trận địa pháo Sao Mai và hầm thủy lôi giữ lại một lớp hoàn toàn khác: ký ức về thời kỳ Núi Lớn được sử dụng như một vị trí quân sự.
Những khẩu pháo đã im tiếng từ lâu. Những hầm thủy lôi cũng không còn giữ vũ khí như chức năng ban đầu. Nhưng vị trí của chúng vẫn còn nguyên ý nghĩa khi nhìn xuống vùng nước phía dưới.
Từ sườn Tương Kỳ nhìn về Gành Rái và Cần Giờ, có thể hiểu vì sao trong một giai đoạn lịch sử, chính ngọn núi nằm sát cửa biển này lại trở thành một mắt xích quan trọng trong hệ thống phòng thủ Vũng Tàu.

Chành xe Tô Châu – 460 Lê Hồng Phong
460 Lê Hồng Phong, Phường Vườn Lài, Thành phố Hồ Chí Minh

Chành xe Tô Châu – Thủ Đức
177 Đỗ Mười (QL1A), Phường Tam Bình, Thành phố Hồ Chí Minh

Chành xe Tô Châu – Cầu Vàm Cống
477 QL91, Khu Vực Thới Hòa 1, Phường Thốt Nốt, Thành phố Cần Thơ

Giáo xứ Hải Dương – Giáo hạt Hải Dương, Giáo phận Hải Phòng
100 Trần Hưng Đạo, Phường Lê Thanh Nghị, Thành phố Hải Phòng

Giáo xứ Hàng Kênh, Giáo hạt Chính Tòa, Giáo Phận Hải Phòng
116 Lạch Tray, Phường Lê Chân, Thành phố Hải Phòng

Giáo xứ Hải Dương – Giáo hạt Hải Dương, Giáo phận Hải Phòng
Nằm tại số 100 Trần Hưng Đạo, Giáo xứ Hải Dương thuộc Giáo hạt Hải Dương, Giáo phận Hải Phòng là một cộng đoàn Công giáo lâu đời giữa vùng đất Hải Dương. Ngôi nhà thờ được ghi nhận xây dựng từ năm 1875, hiện diện giữa khu vực trung tâm đô thị và gắn với một vùng đất có vị trí đặc biệt trong lịch sử Công giáo miền Đông Bắc. Không xa nhà thờ là Đền Thánh Tử Đạo Hải Dương, nơi lưu dấu cuộc tử đạo năm 1861 của các chứng nhân đức tin sau này được Giáo hội tuyên phong hiển thánh.

Giáo xứ Hàng Kênh – Giáo hạt Chính Tòa, Giáo phận Hải Phòng
Giữa khu vực nội thành Hải Phòng, trên trục đường Lạch Tray đông đúc, Giáo xứ Hàng Kênh thuộc Giáo hạt Chính Tòa, Giáo phận Hải Phòng là một cộng đoàn Công giáo có lịch sử hơn một thế kỷ. Hàng Kênh được thành lập với tư cách giáo họ từ năm 1893, từng trực thuộc Giáo xứ Nam Pháp trước khi chính thức được nâng lên hàng giáo xứ năm 2020. Từ một giáo họ lâu đời giữa lòng thành phố, Hàng Kênh ngày nay vừa phục vụ cộng đoàn địa phương, vừa trở thành điểm quy tụ của nhiều người Công giáo từ các nơi đến Hải Phòng sinh sống và làm việc.

Giáo xứ Truyền Tin – Giáo hạt Tân Thạnh, Giáo phận Long Xuyên
Giữa vùng đồng bằng được nhận diện bằng những con kinh mang số, Giáo xứ Truyền Tin nằm bên Kinh 8A, thuộc Giáo hạt Tân Thạnh, Giáo phận Long Xuyên. Trước đây, địa chỉ quen thuộc của nhà thờ là Thạnh Đông A, huyện Tân Hiệp, tỉnh Kiên Giang; sau thay đổi địa giới hành chính, khu vực này thuộc xã Thạnh Đông, tỉnh An Giang. Tên gọi Kinh 8A vẫn còn đó, gắn nhà thờ với một không gian rất đặc trưng của miền Tây: những con kinh thẳng dài, ruộng lúa và các xóm dân cư hình thành dọc hai bên bờ nước.

Đỉnh Tầm Bồ – điểm cao giữa rừng Bình Châu – Phước Bửu
Giữa một vùng ven biển vốn được hình dung bằng những bãi cát thấp và Biển Đông, Khu bảo tồn thiên nhiên Bình Châu – Phước Bửu còn có những điểm địa hình cao hơn nằm trong rừng. Tầm Bồ là một trong số đó. Với độ cao khoảng 114 m, nơi đây không phải một ngọn núi lớn, nhưng đủ để mở ra một góc nhìn khác về vùng đất: từ rừng nhìn về phía dải biển Hồ Cốc – Hồ Tràm.Câu chuyện của Tầm Bồ vì thế không nằm ở độ cao. Điều đáng chú ý là vị trí của một điểm cao giữa khu rừng tự nhiên nằm rất gần biển.

Cửa Bình Châu – nơi làng biển mở ra Biển Đông
Ở phía biển của Bình Châu có một khoảng cửa nước nối không gian phía trong với Biển Đông. Trên bản đồ địa danh biển Việt Nam, nơi này mang tên Cửa Bình Châu. Gần đó là Đầm Bình Châu, cảng cá, khu neo đậu tàu thuyền và những công trình phục vụ hoạt động nghề biển.

Aultmore Distillery – Nhà chưng cất whisky giữa vùng Foggie Moss, Speyside, Scotland
Aultmore Distillery là nhà chưng cất Scotch whisky nằm gần thị trấn Keith, thuộc vùng Speyside của Scotland. Được Alexander Edward thành lập và bắt đầu sản xuất năm 1897, Aultmore đã tồn tại hơn 125 năm giữa một khu vực từ lâu gắn với nghề chưng cất whisky.

The Glenrothes Distillery – Nhà chưng cất Speyside từ năm 1879 tại Rothes, Scotland
The Glenrothes Distillery là nhà chưng cất Single Malt Scotch Whisky nằm tại Rothes, Moray, Scotland, ngay trung tâm vùng whisky Speyside. Được thành lập năm 1879, nhà chưng cất trải qua gần 150 năm phát triển và ngày nay là một trong những tên tuổi lâu đời gắn với thị trấn Rothes.

Stirling Distillery – Khi whisky trở lại dưới chân lâu đài Stirling sau hơn 170 năm
Ngay dưới chân Stirling Castle, giữa khu phố cổ mang đậm dấu ấn lịch sử Scotland, một nhà chưng cất nhỏ đang viết tiếp câu chuyện từng bị gián đoạn hơn một thế kỷ. Stirling Distillery không có quy mô lớn, nhưng vị trí, lịch sử và hành trình đưa whisky trở lại thành phố Stirling khiến nơi đây trở thành một điểm đáng chú ý trên bản đồ whisky Scotland.

Kininvie Distillery – Nhà chưng cất Speyside kín tiếng của William Grant & Sons
Kininvie Distillery là nhà chưng cất Single Malt Scotch Whisky nằm tại Dufftown, Moray, Scotland, thuộc vùng whisky Speyside. Được William Grant & Sons xây dựng năm 1990, Kininvie có vị trí đặc biệt khi nằm ngay trong khu vực của The Balvenie Distillery và gần Glenfiddich – hai nhà chưng cất nổi tiếng cùng thuộc tập đoàn gia đình William Grant & Sons.

Auchentoshan Distillery – Nhà chưng cất whisky Lowland hơn 200 năm bên Glasgow, Scotland
Auchentoshan Distillery là nhà chưng cất Scotch whisky nằm tại Clydebank, ở phía tây bắc Glasgow, Scotland. Nhà chưng cất có lịch sử chính thức từ năm 1823 và ngày nay được biết đến đặc biệt với phương pháp chưng cất ba lần – Triple Distillation, tạo nên phong cách nhẹ, tươi và mềm mại đặc trưng của Auchentoshan Single Malt Scotch Whisky.

Nằm tại số 100 Trần Hưng Đạo, Giáo xứ Hải Dương thuộc Giáo hạt Hải Dương, Giáo phận Hải Phòng là một cộng đoàn Công giáo lâu đời giữa vùng đất Hải Dương. Ngôi nhà thờ được ghi nhận xây dựng từ năm 1875, hiện diện giữa khu vực trung tâm đô thị và gắn với một vùng đất có vị trí đặc biệt trong lịch sử Công giáo miền Đông Bắc. Không xa nhà thờ là Đền Thánh Tử Đạo Hải Dương, nơi lưu dấu cuộc tử đạo năm 1861 của các chứng nhân đức tin sau này được Giáo hội tuyên phong hiển thánh.

Giữa khu vực nội thành Hải Phòng, trên trục đường Lạch Tray đông đúc, Giáo xứ Hàng Kênh thuộc Giáo hạt Chính Tòa, Giáo phận Hải Phòng là một cộng đoàn Công giáo có lịch sử hơn một thế kỷ. Hàng Kênh được thành lập với tư cách giáo họ từ năm 1893, từng trực thuộc Giáo xứ Nam Pháp trước khi chính thức được nâng lên hàng giáo xứ năm 2020. Từ một giáo họ lâu đời giữa lòng thành phố, Hàng Kênh ngày nay vừa phục vụ cộng đoàn địa phương, vừa trở thành điểm quy tụ của nhiều người Công giáo từ các nơi đến Hải Phòng sinh sống và làm việc.

Giữa vùng đồng bằng được nhận diện bằng những con kinh mang số, Giáo xứ Truyền Tin nằm bên Kinh 8A, thuộc Giáo hạt Tân Thạnh, Giáo phận Long Xuyên. Trước đây, địa chỉ quen thuộc của nhà thờ là Thạnh Đông A, huyện Tân Hiệp, tỉnh Kiên Giang; sau thay đổi địa giới hành chính, khu vực này thuộc xã Thạnh Đông, tỉnh An Giang. Tên gọi Kinh 8A vẫn còn đó, gắn nhà thờ với một không gian rất đặc trưng của miền Tây: những con kinh thẳng dài, ruộng lúa và các xóm dân cư hình thành dọc hai bên bờ nước.

Giữa một vùng ven biển vốn được hình dung bằng những bãi cát thấp và Biển Đông, Khu bảo tồn thiên nhiên Bình Châu – Phước Bửu còn có những điểm địa hình cao hơn nằm trong rừng. Tầm Bồ là một trong số đó. Với độ cao khoảng 114 m, nơi đây không phải một ngọn núi lớn, nhưng đủ để mở ra một góc nhìn khác về vùng đất: từ rừng nhìn về phía dải biển Hồ Cốc – Hồ Tràm.Câu chuyện của Tầm Bồ vì thế không nằm ở độ cao. Điều đáng chú ý là vị trí của một điểm cao giữa khu rừng tự nhiên nằm rất gần biển.

Ở phía biển của Bình Châu có một khoảng cửa nước nối không gian phía trong với Biển Đông. Trên bản đồ địa danh biển Việt Nam, nơi này mang tên Cửa Bình Châu. Gần đó là Đầm Bình Châu, cảng cá, khu neo đậu tàu thuyền và những công trình phục vụ hoạt động nghề biển.

Trên hành trình từ vùng đất phía trong Đông Nam Bộ về cửa biển Lộc An, sông Ray đi qua một công trình đã làm thay đổi đáng kể cảnh quan và vai trò của dòng nước: Hồ Sông Ray. Với dung tích hơn 215 triệu m³, đây không đơn thuần là một mặt hồ rộng giữa vùng nông nghiệp mà là một hồ chứa có vai trò quan trọng đối với nguồn nước của cả khu vực.

Trước khi gặp Biển Đông tại Lộc An, nước của sông Ray đã đi qua một hành trình dài từ vùng đất phía trong của Đông Nam Bộ. Dòng sông đi qua địa bàn Đồng Nai, tiếp tục chảy về phía nam, qua hồ chứa Sông Ray rồi cuối cùng mở ra vùng cửa biển Lộc An. Nếu nhìn Lộc An từ phía biển, sông Ray là dòng nước đi đến điểm kết thúc; nhưng nếu lần ngược dòng, đó lại là một câu chuyện kéo dài qua nhiều vùng đất.

Ở phía biển của xã Bình Châu, những con tàu đánh cá, bến neo đậu và hoạt động mua bán thủy sản tạo nên một diện mạo rất khác với rừng hay suối khoáng nóng thường được nhắc đến khi nói về vùng đất này. Nơi người dân quen gọi là Cảng cá Bình Châu cũng gắn với tên Bến Lội trong các tài liệu quản lý nghề cá, lưu giữ một phần đời sống biển đã hình thành và tiếp diễn qua nhiều năm.

Giữa vùng rừng ven biển Bình Châu, có một hiện tượng tự nhiên đã khiến tên Bình Châu được biết đến từ rất lâu trước khi những khu nghỉ dưỡng hiện đại xuất hiện: nước nóng từ lòng đất. Hàng chục điểm nước khoáng nóng lộ thiên, có nơi đạt nhiệt độ khoảng 80°C, tạo nên một không gian đặc biệt giữa rừng, cách Biển Đông không xa.