Đang tải bài viết…
Đang tải bài viết…
Vương cung Thánh đường Chính tòa Đức Mẹ Vô Nhiễm Nguyên Tội, thường được gọi là Nhà thờ Đức Bà Sài Gòn, là nhà thờ chính tòa của Tổng Giáo phận Sài Gòn – TP.HCM và là một trong những công trình kiến trúc, lịch sử tiêu biểu của Thành phố Hồ Chí Minh.
Nhà thờ tọa lạc tại số 1 Công xã Paris, ngay trung tâm thành phố, đối diện Bưu điện Trung tâm Sài Gòn và gần nhiều công trình lịch sử của khu vực trung tâm.
Công trình được xây dựng từ năm 1877 đến 1880, mang phong cách kiến trúc Roman kết hợp Gothic. Với hai tháp chuông cao nổi bật, tường gạch đỏ và quảng trường phía trước với tượng Đức Mẹ Hòa Bình, Nhà thờ Đức Bà đã trở thành một hình ảnh quen thuộc của Sài Gòn qua nhiều thế hệ.
Sau khi người Pháp có mặt tại Sài Gòn vào giữa thế kỷ XIX, nhu cầu xây dựng một nhà thờ lớn phục vụ cộng đồng Công giáo tại thành phố được đặt ra.
Trước Nhà thờ Đức Bà hiện nay đã có những cơ sở được sử dụng làm nhà thờ tại Sài Gòn, nhưng quy mô và điều kiện chưa đáp ứng được nhu cầu của một đô thị đang phát triển.
Một cuộc thi thiết kế nhà thờ mới được tổ chức và phương án của kiến trúc sư Jules Bourard được lựa chọn.
Ngày 07/10/1877, công trình chính thức được đặt viên đá đầu tiên.
Sau khoảng ba năm xây dựng, ngày 11/04/1880, ngôi thánh đường được khánh thành.
Từ đó, công trình trở thành một trong những nhà thờ quan trọng nhất của Sài Gòn.
Nhà thờ Đức Bà Sài Gòn mang phong cách kiến trúc Roman kết hợp Gothic, thể hiện khá rõ qua các cửa vòm, hệ thống cột, mái cao và bố cục đối xứng.
Thánh đường có chiều dài khoảng 93 m, nơi rộng nhất khoảng 35 m và vòm mái cao khoảng 21 m.
Không gian bên trong gồm một lòng chính, hai lòng phụ và các nhà nguyện hai bên.
Một đặc điểm nổi bật của công trình là phần lớn vật liệu xây dựng quan trọng được đưa từ Pháp sang.
Trong đó, lớp gạch đỏ bên ngoài tạo nên màu sắc đặc trưng của Nhà thờ Đức Bà. Công trình không sử dụng lớp sơn phủ bên ngoài như nhiều kiến trúc khác, nhờ đó màu gạch trở thành một phần nhận diện của nhà thờ.
Khi nhà thờ được khánh thành năm 1880, hai tháp phía trước chưa có phần mái nhọn như ngày nay.
Đến năm 1895, hai phần tháp nhọn bằng kim loại được xây dựng bổ sung.
Mỗi phần tháp nhọn cao khoảng 21 m, đưa tổng chiều cao của hai tháp lên khoảng 57 m, tính từ mặt đất đến đỉnh thánh giá.
Hai tháp chuông từ đó trở thành một trong những đặc điểm nhận diện nổi bật nhất của Nhà thờ Đức Bà và của khu vực trung tâm Sài Gòn.
Bên trong hai tháp là hệ thống chuông cổ có lịch sử lâu đời.
Những quả chuông được đúc tại Pháp và có âm sắc khác nhau, tạo thành hệ thống chuông phục vụ các nghi thức phụng vụ của nhà thờ.
Qua hơn một thế kỷ, hệ thống chuông cùng hai tháp chuông đã trở thành một phần đặc biệt trong lịch sử kiến trúc và âm thanh đô thị của khu vực trung tâm Sài Gòn.
Trong quá trình đại trùng tu hiện nay, hệ thống tháp, chuông và các cấu kiện liên quan cũng được kiểm tra và phục hồi.
Phía trước nhà thờ là quảng trường với tượng Đức Mẹ Hòa Bình, một hình ảnh gắn liền với Nhà thờ Đức Bà Sài Gòn.
Tượng được thực hiện bằng đá cẩm thạch trắng và đặt tại quảng trường phía trước nhà thờ vào năm 1959, nhân dịp Đại hội Thánh Mẫu toàn quốc.
Hình ảnh Đức Maria đứng giữa quảng trường, phía sau là hai tháp chuông Nhà thờ Đức Bà, đã trở thành một trong những góc nhìn quen thuộc của trung tâm Thành phố Hồ Chí Minh.
Một dấu mốc đặc biệt diễn ra vào năm 1959.
Ngày 09/12/1959, Đức cha Simon Hòa Nguyễn Văn Hiền chủ sự nghi lễ cung hiến thánh đường với tước hiệu Đức Mẹ Vô Nhiễm Nguyên Tội.
Nhà thờ được Tòa Thánh nâng lên hàng Tiểu Vương cung Thánh đường.
Đến ngày 24/11/1960, khi Tòa Thánh thiết lập Hàng Giáo phẩm Việt Nam và nâng Sài Gòn thành Tổng Giáo phận, nhà thờ trở thành Nhà thờ Chính tòa của Tổng Giáo phận Sài Gòn.
Tên gọi đầy đủ vì vậy là:
Vương cung Thánh đường Chính tòa Đức Mẹ Vô Nhiễm Nguyên Tội.
Trong đời sống thường ngày, người dân vẫn quen gọi ngắn gọn là Nhà thờ Đức Bà Sài Gòn.
Nhà thờ nhận Đức Mẹ Vô Nhiễm Nguyên Tội làm bổn mạng.
Lễ Đức Mẹ Vô Nhiễm Nguyên Tội được Giáo hội Công giáo cử hành vào ngày 08/12 hằng năm.
Danh hiệu này cũng được sử dụng trong tên chính thức của Vương cung Thánh đường.
Sau hơn một thế kỷ hiện diện, nhiều hạng mục của Nhà thờ Đức Bà bị xuống cấp do thời gian, thời tiết và môi trường đô thị.
Tổng Giáo phận Sài Gòn bắt đầu quá trình khảo sát toàn diện từ năm 2015.
Sau khoảng hai năm chuẩn bị, công trình đại trùng tu chính thức bắt đầu từ 01/07/2017.
Đây là một dự án bảo tồn quy mô lớn và phức tạp. Nhiều vật liệu đặc thù phải được nghiên cứu hoặc nhập khẩu từ châu Âu nhằm bảo đảm tương thích với kết cấu và kiến trúc nguyên bản.
Các hạng mục gồm mái ngói, hệ thống khung mái, tháp chuông, tháp kẽm, tường gạch, kính màu, hệ thống thoát nước và nhiều cấu kiện kiến trúc khác.
Đến năm 2026, công trình đại trùng tu Nhà thờ Đức Bà vẫn tiếp tục được triển khai.
Một trong những dấu mốc đáng chú ý diễn ra ngày 19/03/2026, khi hai cây thánh giá được đặt trở lại trên đỉnh hai tháp kẽm sau quá trình khảo sát, số hóa, phục dựng và gia cố kỹ thuật.
Việc trùng tu được thực hiện theo hướng bảo tồn tối đa kiến trúc và vật liệu nguyên bản, đồng thời gia cố công trình để có thể tiếp tục tồn tại lâu dài.
Trong thời gian thi công, các hoạt động phụng vụ của Nhà thờ Chính tòa vẫn được duy trì theo điều kiện thực tế.
Nhà thờ Đức Bà không chỉ là một giáo xứ mà còn là nhà thờ chính tòa của Tổng Giáo phận Sài Gòn.
Trong Công giáo, nhà thờ chính tòa là nơi đặt tòa của Tổng Giám mục và giữ vai trò trung tâm trong đời sống của một tổng giáo phận.
Vì vậy, nhiều sự kiện quan trọng của Tổng Giáo phận Sài Gòn được tổ chức tại đây, bên cạnh các Thánh lễ và sinh hoạt thường xuyên của cộng đoàn Giáo xứ Chính tòa.
Ngoài giá trị tôn giáo, Nhà thờ Đức Bà còn có vị trí đặc biệt trong lịch sử kiến trúc và cảnh quan đô thị Thành phố Hồ Chí Minh.
Nhà thờ cùng Bưu điện Trung tâm, đường Đồng Khởi và các công trình lịch sử xung quanh tạo thành một không gian kiến trúc đặc trưng của khu vực trung tâm thành phố.
Hình ảnh hai tháp chuông, mặt tiền gạch đỏ và tượng Đức Mẹ phía trước đã xuất hiện trong nhiều tư liệu, sách báo, bưu ảnh và hình ảnh về Sài Gòn trong hơn một thế kỷ.
Vì vậy, Nhà thờ Đức Bà không chỉ quen thuộc với cộng đồng Công giáo mà còn trở thành một trong những địa danh tiêu biểu khi nhắc đến Thành phố Hồ Chí Minh.
Chúa nhật: 05:30 – 08:00 – 09:30 (Thánh lễ tiếng Anh) – 16:00 – 17:30 – 19:00
Thứ Hai: 05:30 – 17:30
Thứ Ba: 05:30 – 17:30
Thứ Tư: 05:30 – 17:30
Thứ Năm: 05:30 – 17:30
Thứ Sáu: 05:30 – 17:30
Thứ Bảy: 05:30 – 17:30
Giờ Thánh lễ có thể thay đổi vào các dịp lễ trọng hoặc trong từng giai đoạn thi công trùng tu. Người tham dự nên kiểm tra thông báo mới của Nhà thờ Chính tòa trước các dịp lễ lớn.
Với lịch sử hình thành từ cuối thế kỷ XIX, Nhà thờ Đức Bà Sài Gòn là một trong những công trình còn lưu giữ nhiều dấu ấn của quá trình phát triển đô thị Sài Gòn.
Từ lễ đặt viên đá đầu tiên năm 1877, khánh thành năm 1880, hoàn thiện hai tháp nhọn năm 1895 đến việc được nâng lên hàng Tiểu Vương cung Thánh đường năm 1959, mỗi giai đoạn đều để lại những dấu mốc đáng chú ý.
Ngày nay, công trình đồng thời mang nhiều giá trị: nhà thờ chính tòa của Tổng Giáo phận Sài Gòn, Tiểu Vương cung Thánh đường, công trình kiến trúc lịch sử và một địa danh tiêu biểu của Thành phố Hồ Chí Minh.
Sau gần 150 năm hiện diện giữa trung tâm thành phố, Nhà thờ Đức Bà vẫn là một phần quen thuộc trong ký ức và cảnh quan của Sài Gòn qua nhiều thế hệ.
Tên chính thức: Vương cung Thánh đường Chính tòa Đức Mẹ Vô Nhiễm Nguyên Tội
Tên phổ biến: Nhà thờ Đức Bà Sài Gòn
Tên gọi khác: Nhà thờ Chính tòa Đức Bà Sài Gòn
Giáo xứ: Giáo xứ Chính tòa
Giáo phận: Tổng Giáo phận Sài Gòn – TP.HCM
Bổn mạng: Đức Mẹ Vô Nhiễm Nguyên Tội
Ngày lễ bổn mạng: 08/12
Địa chỉ: Số 1 Công xã Paris, TP.HCM
Kiến trúc sư: Jules Bourard
Khởi công: 07/10/1877
Khánh thành: 11/04/1880
Hoàn thiện hai tháp nhọn: 1895
Cung hiến và nâng lên hàng Tiểu Vương cung Thánh đường: 09/12/1959
Trở thành Nhà thờ Chính tòa Tổng Giáo phận Sài Gòn: 1960
Khởi công đại trùng tu: 01/07/2017
Phong cách kiến trúc: Roman kết hợp Gothic
Chiều dài: khoảng 93 m
Chiều rộng lớn nhất: khoảng 35 m
Chiều cao vòm mái: khoảng 21 m
Chiều cao hai tháp: khoảng 57 m
Sức chứa: khoảng 1.200 người
Loại hình: Vương cung thánh đường – nhà thờ chính tòa – công trình tôn giáo, lịch sử và kiến trúc tiêu biểu của TP.HCM.

Chi nhánh Công ty TNHH Sản xuất Thương mại và Dịch vụ Quốc Kiệt – 809/35 Trần Hưng Đạo, Chợ Quán, TP.HCM
809/35 Trần Hưng Đạo, Phường Chợ Quán, Thành phố Hồ Chí Minh

Công ty TNHH Sản xuất Thương mại và Dịch vụ Quốc Kiệt – 703/18 Tỉnh Lộ 10, An Lạc, TP.HCM
703/18 Tỉnh Lộ 10, Phường An Lạc, Thành phố Hồ Chí Minh

Công ty Cổ phần Đầu tư LBM – 184 Nam Kỳ Khởi Nghĩa, Xuân Hòa, TP.HCM
184 Nam Kỳ Khởi Nghĩa, Phường Xuân Hòa, Thành phố Hồ Chí Minh

Công ty Trách nhiệm hữu hạn Song Hy – 343/1H Tô Hiến Thành, Hòa Hưng, TP.HCM
343/1H Tô Hiến Thành, Phường Hòa Hưng, Thành phố Hồ Chí Minh

Nhà xe Võ Cúc Phương – 97I Nguyễn Duy Dương, An Đông, TP.HCM
97 Nguyễn Duy Dương, Phường An Đông, Thành phố Hồ Chí Minh

Ai đang giữ những ký ức nằm ngoài các kho lưu trữ lớn?
Khi nói đến lưu trữ, chúng ta thường nghĩ đến những trung tâm lớn với hàng triệu trang tài liệu được kiểm kê và bảo quản chuyên nghiệp. Nhưng ký ức của một đất nước còn nằm ở rất nhiều nơi khác: trong nhà thờ họ, phòng truyền thống của trường học, tủ hồ sơ của một doanh nghiệp, kho tư liệu của cơ sở tôn giáo, những chiếc rương cũ và album ảnh trong mỗi gia đình. Một phần đáng kể ký ức xã hội vì thế đang được gìn giữ bởi những con người mà chính họ đôi khi cũng chưa nghĩ mình là người đang giữ tư liệu.

Luật Lưu trữ và tài liệu số – khi ký ức bước vào một không gian pháp lý mới
Một tài liệu từng chỉ tồn tại trên giấy nay có thể được tạo thành bản số, đưa vào cơ sở dữ liệu, tìm kiếm và sử dụng trên môi trường điện tử. Nhưng khi tài liệu bước từ chiếc tủ hồ sơ sang thế giới dữ liệu, một câu hỏi mới xuất hiện: bản số có giá trị thế nào, phải được lưu giữ ra sao và làm thế nào để nhiều năm sau vẫn xác định được nguồn gốc, tính toàn vẹn của nó? Luật Lưu trữ năm 2024 cho thấy pháp luật Việt Nam đang nhìn tài liệu số không còn như một phần phụ của tài liệu giấy, mà như một thành phần ngày càng quan trọng của hoạt động lưu trữ trong thời đại số.

Từ Hán Nôm đến thư viện số – những bài học từ hành trình số hóa tư liệu ở Việt Nam
Một kho tư liệu hàng trăm năm tuổi không thể bước vào thế giới số chỉ bằng việc đặt từng trang lên máy scan. Thực tế số hóa tại Việt Nam trong nhiều năm qua cho thấy phía sau mỗi bản số còn là câu chuyện về bảo tồn bản gốc, chất lượng hình ảnh, thông tin mô tả, khả năng tra cứu và cách dữ liệu tiếp tục được lưu giữ khi công nghệ thay đổi. Nhìn vào những trường hợp như thư tịch Hán Nôm, thư viện và Mộc bản triều Nguyễn, có thể thấy số hóa thực chất là một hành trình dài hơn rất nhiều so với việc tạo ra một file ảnh hay PDF.

Việt Nam đã đi đến đâu trên hành trình số hóa tư liệu?
Số hóa tư liệu ở Việt Nam không phải câu chuyện mới bắt đầu cùng làn sóng chuyển đổi số những năm gần đây. Từ cuối thập niên 1990, một số cơ quan nghiên cứu đã sử dụng công nghệ để sao lưu và khai thác những kho tư liệu quý. Sau hơn hai thập niên, từ thư tịch Hán Nôm, tài liệu lưu trữ đến sách, báo, luận án và nhiều bộ sưu tập khác đã từng bước bước vào môi trường số. Tuy vậy, giữa những dự án lớn đã được triển khai và khối lượng tư liệu còn nằm trong kho, tổ chức, cộng đồng và gia đình vẫn là một khoảng cách rất dài.

Khi một tài liệu biến mất, chúng ta thực sự mất điều gì?
Một cuốn sổ bị bỏ đi, một tập hồ sơ thất lạc hay một album ảnh hư hỏng đôi khi chỉ được nhìn như sự mất đi của vài món đồ cũ. Nhưng tài liệu khác với nhiều đồ vật thông thường ở chỗ nó mang theo thông tin về con người, sự kiện và thời gian. Khi bản duy nhất biến mất, có những câu chuyện cũng có thể mất theo mà không còn cách nào khôi phục đầy đủ.

Danh sách phường và xã Thành phố Đồng Nai (từ 30/04/2026)
Từ ngày 30/04/2026, Đồng Nai chính thức chuyển sang mô hình thành phố trực thuộc Trung ương, toàn bộ hệ thống đơn vị hành chính cấp cơ sở được tổ chức lại thành 95 phường và xã. Đây là dữ liệu nền quan trọng giúp người dân, doanh nghiệp và hệ thống Mapstore tra cứu địa chỉ, đối chiếu địa danh và cập nhật thông tin theo cấu trúc hành chính mới của Việt Nam.

Phường Tân Thuận Đông, Quận 7 sau sáp nhập là phường nào?
Thông tin tra cứu nhanh Tên phường cũ: Phường Tân Thuận Đông, Quận 7 (TP Hồ Chí Minh – trước 01/07/2025) Phường mới hiện nay: Phường Tân Thuận, TP Hồ Chí Minh Cơ quan hành chính: Ủy ban nhân dân phường Tân Thuận Mã số thuế: 0319034772 Địa chỉ: 342 Huỳnh Tấn Phát, Phường Tân Thuận, TP Hồ Chí Minh, Việt Nam

Nhà thờ Giáo xứ Lãng Vân – Một dấu ấn kiến trúc và lịch sử của vùng Phát Diệm
Nhà thờ Giáo xứ Lãng Vân tọa lạc tại xã Gia Vân, huyện Gia Viễn, tỉnh Ninh Bình. Đây là một trong những thánh đường có quy mô lớn của Giáo phận Phát Diệm, đồng thời là địa điểm mang giá trị văn hóa và lịch sử đặc trưng của vùng Công giáo truyền thống. Giáo xứ được thành lập từ năm 1885, gắn liền với hành trình hình thành và phát triển đức tin của cộng đoàn sinh sống tại khu vực này.

Phường 13, Quận 6 sau sáp nhập là phường nào?
Thông tin tra cứu nhanh Tên phường cũ: Phường 13, Quận 6 (TP Hồ Chí Minh – trước 01/07/2025) Phường mới hiện nay: Phường Phú Lâm, TP Hồ Chí Minh Cơ quan hành chính: Mã số thuế: 0319110423 Địa chỉ: 241/3 Tân Hòa Đông, Phường Phú Lâm, TP Hồ Chí Minh, Việt Nam

Phường Bến Nghé sau sáp nhập là phường nào?
Thông tin tra cứu nhanh Tên phường cũ: Phường Bến NghéĐơn vị hành chính hiện nay: Phường Sài Gòn, Thành phố Hồ Chí MinhNghị quyết sắp xếp: Nghị quyết số 1685/NQ-UBTVQH15 ngày 16/06/2025 của Ủy ban Thường vụ Quốc hộiThời điểm áp dụng: Từ ngày 01/07/2025

Khi nói đến lưu trữ, chúng ta thường nghĩ đến những trung tâm lớn với hàng triệu trang tài liệu được kiểm kê và bảo quản chuyên nghiệp. Nhưng ký ức của một đất nước còn nằm ở rất nhiều nơi khác: trong nhà thờ họ, phòng truyền thống của trường học, tủ hồ sơ của một doanh nghiệp, kho tư liệu của cơ sở tôn giáo, những chiếc rương cũ và album ảnh trong mỗi gia đình. Một phần đáng kể ký ức xã hội vì thế đang được gìn giữ bởi những con người mà chính họ đôi khi cũng chưa nghĩ mình là người đang giữ tư liệu.

Một tài liệu từng chỉ tồn tại trên giấy nay có thể được tạo thành bản số, đưa vào cơ sở dữ liệu, tìm kiếm và sử dụng trên môi trường điện tử. Nhưng khi tài liệu bước từ chiếc tủ hồ sơ sang thế giới dữ liệu, một câu hỏi mới xuất hiện: bản số có giá trị thế nào, phải được lưu giữ ra sao và làm thế nào để nhiều năm sau vẫn xác định được nguồn gốc, tính toàn vẹn của nó? Luật Lưu trữ năm 2024 cho thấy pháp luật Việt Nam đang nhìn tài liệu số không còn như một phần phụ của tài liệu giấy, mà như một thành phần ngày càng quan trọng của hoạt động lưu trữ trong thời đại số.

Một kho tư liệu hàng trăm năm tuổi không thể bước vào thế giới số chỉ bằng việc đặt từng trang lên máy scan. Thực tế số hóa tại Việt Nam trong nhiều năm qua cho thấy phía sau mỗi bản số còn là câu chuyện về bảo tồn bản gốc, chất lượng hình ảnh, thông tin mô tả, khả năng tra cứu và cách dữ liệu tiếp tục được lưu giữ khi công nghệ thay đổi. Nhìn vào những trường hợp như thư tịch Hán Nôm, thư viện và Mộc bản triều Nguyễn, có thể thấy số hóa thực chất là một hành trình dài hơn rất nhiều so với việc tạo ra một file ảnh hay PDF.

Số hóa tư liệu ở Việt Nam không phải câu chuyện mới bắt đầu cùng làn sóng chuyển đổi số những năm gần đây. Từ cuối thập niên 1990, một số cơ quan nghiên cứu đã sử dụng công nghệ để sao lưu và khai thác những kho tư liệu quý. Sau hơn hai thập niên, từ thư tịch Hán Nôm, tài liệu lưu trữ đến sách, báo, luận án và nhiều bộ sưu tập khác đã từng bước bước vào môi trường số. Tuy vậy, giữa những dự án lớn đã được triển khai và khối lượng tư liệu còn nằm trong kho, tổ chức, cộng đồng và gia đình vẫn là một khoảng cách rất dài.

Một cuốn sổ bị bỏ đi, một tập hồ sơ thất lạc hay một album ảnh hư hỏng đôi khi chỉ được nhìn như sự mất đi của vài món đồ cũ. Nhưng tài liệu khác với nhiều đồ vật thông thường ở chỗ nó mang theo thông tin về con người, sự kiện và thời gian. Khi bản duy nhất biến mất, có những câu chuyện cũng có thể mất theo mà không còn cách nào khôi phục đầy đủ.

Lịch sử của một đất nước không chỉ được lưu lại trong sử sách. Qua nhiều thế hệ, người Việt đã để lại một lượng tư liệu rất lớn trên mộc bản, văn bản hành chính, sách, báo, bản đồ, gia phả, thư từ, sổ sách và những bức ảnh gia đình. Mỗi loại tư liệu giữ một phần câu chuyện khác nhau, từ những biến chuyển của quốc gia đến đời sống của từng cộng đồng và mỗi con người.

Một cuốn sổ cũ, một tập thư, một tấm bản đồ, một cuốn gia phả hay những bức ảnh đã bạc màu có thể chỉ là những đồ vật quen thuộc trong một gia đình hoặc tổ chức. Nhưng khi thời gian đi qua, những gì được ghi lại trên đó có thể trở thành bằng chứng về con người, vùng đất và một giai đoạn lịch sử. Giá trị của tư liệu vì thế không phải lúc nào cũng được nhận ra ngay ở thời điểm nó được tạo ra.

Công nghệ số mới hiện diện trong một phần rất ngắn của lịch sử, trong khi hàng trăm, hàng nghìn năm trước đó, ký ức của con người đã được ghi lại trên giấy, sách, ảnh, bản đồ và nhiều vật mang tin khác. Khi xã hội bước vào thời đại dữ liệu, một câu hỏi đáng suy nghĩ được đặt ra: làm thế nào để những tư liệu được tạo ra trước thời đại số tiếp tục được gìn giữ, tìm kiếm và truyền lại cho những thế hệ sau?

Nhà thờ Chính tòa Bùi Chu là nhà thờ chính tòa và được xem như nhà thờ mẹ của Giáo phận Bùi Chu, tọa lạc tại vùng đất Bùi Chu, Xuân Trường, Nam Định trước đây.Không chỉ là trung tâm phụng vụ của Giáo phận, Bùi Chu còn là một trong những địa danh Công giáo có lịch sử lâu đời ở miền Bắc Việt Nam. Vùng đất này đón nhận Tin Mừng từ thế kỷ XVII, trở thành nơi đặt Tòa Giám mục và chứng kiến nhiều giai đoạn quan trọng trong lịch sử hình thành, phát triển của Giáo phận Bùi Chu.