Đang tải bài viết…
Đang tải bài viết…
Giữa biển và vùng cửa vịnh phía Nam, Vũng Tàu hình thành trên một không gian mà núi, bờ biển và những tuyến nước nằm rất gần nhau. Núi Lớn, Núi Nhỏ, Bãi Trước, Bãi Sau, những làng biển cũ, ngọn hải đăng và các dấu tích tín ngưỡng cùng tạo nên một vùng đất có nhiều lớp hơn hình ảnh quen thuộc của một nơi nghỉ biển.
Nhìn trên bản đồ, Vũng Tàu nằm trên một vùng đất nhô ra biển. Địa hình không quá rộng nhưng có hai khối núi nổi bật là Núi Lớn và Núi Nhỏ, cùng những đường bờ biển mang hình thái khác nhau.
Giữa hai ngọn núi là Bãi Trước, một vòng cung hướng về phía tây và vùng nước Gành Rái. Ở phía đông, Bãi Sau mở thành dải bờ biển dài hướng ra biển lớn. Phía nam Núi Nhỏ tiếp tục hạ xuống Mũi Nghinh Phong; ngoài mặt nước là Hòn Bà, hòn đảo nhỏ mà lối đá nối với bờ chỉ xuất hiện khi thủy triều xuống.
Cấu trúc tự nhiên ấy tạo nên nhiều mặt khác nhau của Vũng Tàu trong một khoảng cách khá gần.
Đi từ Bãi Trước vòng qua Núi Nhỏ tới Bãi Sau là chuyển từ một bờ vịnh gắn với trung tâm đô thị sang một dải biển rộng gắn với nghỉ dưỡng. Men theo phía bên kia, Núi Lớn tiếp tục kéo cảnh quan về Bãi Dâu và vùng nước phía Gành Rái.
Núi và biển vì thế không chỉ là cảnh quan bao quanh Vũng Tàu. Chúng tạo nên nền địa hình để con người lựa chọn nơi lập làng, đặt công trình phòng thủ, xây hải đăng, hình thành không gian tín ngưỡng và sau này phát triển đô thị.
Trước những con đường, khách sạn và khu du lịch ngày nay, lịch sử Vũng Tàu đã gắn với những cộng đồng cư dân sống bên biển.
Dấu vết của lớp cư dân ấy còn được lưu lại qua các tên Thắng Nhất, Thắng Nhì và Thắng Tam. Trong ký ức về quá trình hình thành vùng đất, ba làng gắn với những người được giao nhiệm vụ canh phòng, quản lý dân cư rồi dần hình thành cộng đồng định cư.
Đình Thắng Tam là một trong những nơi còn lưu rõ lớp ký ức này. Cùng với Lăng Ông Nam Hải và Miếu Bà Ngũ Hành, quần thể cho thấy đời sống của cư dân biển không chỉ xoay quanh việc đánh bắt mà còn hình thành những tập tục, tín ngưỡng và sinh hoạt cộng đồng riêng.
Biển hiện diện trong những chuyến ra khơi, trong tín ngưỡng thờ cá Ông, trong những kỳ lễ và trong mong ước bình an của người sống bằng nghề biển.
Từ những làng ven biển, Vũng Tàu dần bước sang những giai đoạn phát triển khác. Đường sá được mở, công trình hành chính và nghỉ dưỡng xuất hiện, khu dân cư mở rộng, còn Bãi Trước dần trở thành một mặt tiền hướng ra biển của đô thị.
Những làng xưa không còn giữ nguyên diện mạo ban đầu, nhưng dấu vết của chúng vẫn nằm trong tên đất, đình miếu và ký ức của vùng.
Nếu muốn đọc lịch sử Vũng Tàu qua cảnh quan, Núi Lớn và Núi Nhỏ là hai nơi có thể nhìn thấy nhiều lớp dấu tích nằm gần nhau.
Trên Núi Nhỏ, Hải đăng Vũng Tàu gắn với lịch sử hàng hải từ thế kỷ XIX. Vị trí cao sát biển cho phép ánh đèn hỗ trợ tàu thuyền hoạt động ngoài khơi và trên tuyến nước dẫn vào Gành Rái. Cũng trên khối núi này còn có những dấu tích phòng thủ và Tượng Chúa Kitô Vua, công trình tôn giáo về sau trở thành một hình ảnh quen thuộc của Vũng Tàu.
Núi Lớn mang một diện mạo khác.
Trên sườn núi là Bạch Dinh, nơi lưu lại những lớp lịch sử từ dấu tích phòng thủ cửa biển đến thời thuộc địa và câu chuyện liên quan vua Thành Thái. Ở những hướng khác là trận địa pháo cũ, Thích Ca Phật Đài và không gian Công giáo Bãi Dâu.
Hai ngọn núi không lớn, nhưng qua từng thời kỳ, con người đã đặt lên đó những công trình với mục đích rất khác nhau: quan sát biển, phòng thủ, dẫn đường hàng hải, nghỉ dưỡng, thờ tự và hành hương.
Những công trình ấy ngày nay trở thành các địa danh riêng. Nhưng khi đặt chúng trở lại trên cùng nền địa hình, có thể nhìn thấy một câu chuyện rộng hơn về cách con người sử dụng và để lại dấu vết trên vùng đất Vũng Tàu.
Ngày nay, nhắc đến Vũng Tàu, hình ảnh quen thuộc thường là những bãi biển, đường ven biển và các chuyến nghỉ cuối tuần. Nhưng trong một thời gian rất dài, vị trí của vùng đất này còn được nhận biết từ phía biển.
Ngoài khơi, hình dáng Núi Lớn và Núi Nhỏ từng là những dấu hiệu tự nhiên của đất liền. Trên Núi Nhỏ, ngọn hải đăng tiếp tục bổ sung một dấu hiệu do con người tạo ra. Phía tây là Gành Rái, vùng nước nối biển với cửa Cần Giờ và những tuyến hàng hải đi sâu vào hệ thống sông, cảng phía trong.
Vì vậy, câu chuyện Vũng Tàu không chỉ diễn ra dọc bãi cát.
Một phần lịch sử của vùng đất nằm trên những tuyến nước mà tàu thuyền đã qua lại, trong các công trình nhìn ra cửa biển và trong vị trí nối giữa biển với vùng đất phía sau.
Đến năm 2026, tên Vũng Tàu vẫn được sử dụng rộng rãi để chỉ vùng đô thị biển quen thuộc này, trong khi về hành chính khu vực lõi hiện thuộc phường Vũng Tàu, Thành phố Hồ Chí Minh. Sự thay đổi địa giới mở thêm một lớp mới cho vùng đất, nhưng không làm mất đi những tên gọi và ký ức địa phương đã hình thành qua nhiều thế hệ.
Bãi Trước vẫn nằm giữa hai ngọn núi. Bãi Sau vẫn mở về phía biển. Hải đăng vẫn đứng trên Núi Nhỏ, Bạch Dinh trên sườn Núi Lớn, còn Hòn Bà mỗi ngày vẫn gần rồi xa bờ theo con nước.
Giữa một đô thị tiếp tục thay đổi, chính những mối quan hệ giữa núi, biển, con người và những dấu tích còn lại giúp Vũng Tàu giữ được câu chuyện riêng của vùng đất mình.

Chành xe Tô Châu – 215A Quốc lộ 80, Hòa Long, Đồng Tháp
215A Quốc Lộ 80, Xã Hòa Long, Tỉnh Đồng Tháp

Chành xe Tô Châu – 325 Đường 3/2, Lấp Vò, Đồng Tháp
325 Đường 3/2, Khóm Bình Thạnh 1, Xã Lấp Vò, Tỉnh Đồng Tháp

Chành xe Tô Châu – 698 Hùng Vương, Ngã Bảy, Cần Thơ
698 Hùng Vương, Phường Ngã Bảy, Thành phố Cần Thơ

Chành xe Tô Châu – 24 Ngô Quốc Trị, Vị Tân, Cần Thơ
24 Đường Ngô Quốc Trị, Phường Vị Tân, Thành phố Cần Thơ

Chành xe Tô Châu – QL61B, Long Mỹ, Cần Thơ
Đường tránh về Ngã Năm, Quốc lộ 61B, Khu vực 6, Phường Long Mỹ, Thành phố Cần Thơ

Giáo xứ Hải Dương – Giáo hạt Hải Dương, Giáo phận Hải Phòng
Nằm tại số 100 Trần Hưng Đạo, Giáo xứ Hải Dương thuộc Giáo hạt Hải Dương, Giáo phận Hải Phòng là một cộng đoàn Công giáo lâu đời giữa vùng đất Hải Dương. Ngôi nhà thờ được ghi nhận xây dựng từ năm 1875, hiện diện giữa khu vực trung tâm đô thị và gắn với một vùng đất có vị trí đặc biệt trong lịch sử Công giáo miền Đông Bắc. Không xa nhà thờ là Đền Thánh Tử Đạo Hải Dương, nơi lưu dấu cuộc tử đạo năm 1861 của các chứng nhân đức tin sau này được Giáo hội tuyên phong hiển thánh.

Giáo xứ Hàng Kênh – Giáo hạt Chính Tòa, Giáo phận Hải Phòng
Giữa khu vực nội thành Hải Phòng, trên trục đường Lạch Tray đông đúc, Giáo xứ Hàng Kênh thuộc Giáo hạt Chính Tòa, Giáo phận Hải Phòng là một cộng đoàn Công giáo có lịch sử hơn một thế kỷ. Hàng Kênh được thành lập với tư cách giáo họ từ năm 1893, từng trực thuộc Giáo xứ Nam Pháp trước khi chính thức được nâng lên hàng giáo xứ năm 2020. Từ một giáo họ lâu đời giữa lòng thành phố, Hàng Kênh ngày nay vừa phục vụ cộng đoàn địa phương, vừa trở thành điểm quy tụ của nhiều người Công giáo từ các nơi đến Hải Phòng sinh sống và làm việc.

Giáo xứ Truyền Tin – Giáo hạt Tân Thạnh, Giáo phận Long Xuyên
Giữa vùng đồng bằng được nhận diện bằng những con kinh mang số, Giáo xứ Truyền Tin nằm bên Kinh 8A, thuộc Giáo hạt Tân Thạnh, Giáo phận Long Xuyên. Trước đây, địa chỉ quen thuộc của nhà thờ là Thạnh Đông A, huyện Tân Hiệp, tỉnh Kiên Giang; sau thay đổi địa giới hành chính, khu vực này thuộc xã Thạnh Đông, tỉnh An Giang. Tên gọi Kinh 8A vẫn còn đó, gắn nhà thờ với một không gian rất đặc trưng của miền Tây: những con kinh thẳng dài, ruộng lúa và các xóm dân cư hình thành dọc hai bên bờ nước.

Đỉnh Tầm Bồ – điểm cao giữa rừng Bình Châu – Phước Bửu
Giữa một vùng ven biển vốn được hình dung bằng những bãi cát thấp và Biển Đông, Khu bảo tồn thiên nhiên Bình Châu – Phước Bửu còn có những điểm địa hình cao hơn nằm trong rừng. Tầm Bồ là một trong số đó. Với độ cao khoảng 114 m, nơi đây không phải một ngọn núi lớn, nhưng đủ để mở ra một góc nhìn khác về vùng đất: từ rừng nhìn về phía dải biển Hồ Cốc – Hồ Tràm.Câu chuyện của Tầm Bồ vì thế không nằm ở độ cao. Điều đáng chú ý là vị trí của một điểm cao giữa khu rừng tự nhiên nằm rất gần biển.

Cửa Bình Châu – nơi làng biển mở ra Biển Đông
Ở phía biển của Bình Châu có một khoảng cửa nước nối không gian phía trong với Biển Đông. Trên bản đồ địa danh biển Việt Nam, nơi này mang tên Cửa Bình Châu. Gần đó là Đầm Bình Châu, cảng cá, khu neo đậu tàu thuyền và những công trình phục vụ hoạt động nghề biển.

Aultmore Distillery – Nhà chưng cất whisky giữa vùng Foggie Moss, Speyside, Scotland
Aultmore Distillery là nhà chưng cất Scotch whisky nằm gần thị trấn Keith, thuộc vùng Speyside của Scotland. Được Alexander Edward thành lập và bắt đầu sản xuất năm 1897, Aultmore đã tồn tại hơn 125 năm giữa một khu vực từ lâu gắn với nghề chưng cất whisky.

The Glenrothes Distillery – Nhà chưng cất Speyside từ năm 1879 tại Rothes, Scotland
The Glenrothes Distillery là nhà chưng cất Single Malt Scotch Whisky nằm tại Rothes, Moray, Scotland, ngay trung tâm vùng whisky Speyside. Được thành lập năm 1879, nhà chưng cất trải qua gần 150 năm phát triển và ngày nay là một trong những tên tuổi lâu đời gắn với thị trấn Rothes.

Stirling Distillery – Khi whisky trở lại dưới chân lâu đài Stirling sau hơn 170 năm
Ngay dưới chân Stirling Castle, giữa khu phố cổ mang đậm dấu ấn lịch sử Scotland, một nhà chưng cất nhỏ đang viết tiếp câu chuyện từng bị gián đoạn hơn một thế kỷ. Stirling Distillery không có quy mô lớn, nhưng vị trí, lịch sử và hành trình đưa whisky trở lại thành phố Stirling khiến nơi đây trở thành một điểm đáng chú ý trên bản đồ whisky Scotland.

Kininvie Distillery – Nhà chưng cất Speyside kín tiếng của William Grant & Sons
Kininvie Distillery là nhà chưng cất Single Malt Scotch Whisky nằm tại Dufftown, Moray, Scotland, thuộc vùng whisky Speyside. Được William Grant & Sons xây dựng năm 1990, Kininvie có vị trí đặc biệt khi nằm ngay trong khu vực của The Balvenie Distillery và gần Glenfiddich – hai nhà chưng cất nổi tiếng cùng thuộc tập đoàn gia đình William Grant & Sons.

Auchentoshan Distillery – Nhà chưng cất whisky Lowland hơn 200 năm bên Glasgow, Scotland
Auchentoshan Distillery là nhà chưng cất Scotch whisky nằm tại Clydebank, ở phía tây bắc Glasgow, Scotland. Nhà chưng cất có lịch sử chính thức từ năm 1823 và ngày nay được biết đến đặc biệt với phương pháp chưng cất ba lần – Triple Distillation, tạo nên phong cách nhẹ, tươi và mềm mại đặc trưng của Auchentoshan Single Malt Scotch Whisky.

Nằm tại số 100 Trần Hưng Đạo, Giáo xứ Hải Dương thuộc Giáo hạt Hải Dương, Giáo phận Hải Phòng là một cộng đoàn Công giáo lâu đời giữa vùng đất Hải Dương. Ngôi nhà thờ được ghi nhận xây dựng từ năm 1875, hiện diện giữa khu vực trung tâm đô thị và gắn với một vùng đất có vị trí đặc biệt trong lịch sử Công giáo miền Đông Bắc. Không xa nhà thờ là Đền Thánh Tử Đạo Hải Dương, nơi lưu dấu cuộc tử đạo năm 1861 của các chứng nhân đức tin sau này được Giáo hội tuyên phong hiển thánh.

Giữa khu vực nội thành Hải Phòng, trên trục đường Lạch Tray đông đúc, Giáo xứ Hàng Kênh thuộc Giáo hạt Chính Tòa, Giáo phận Hải Phòng là một cộng đoàn Công giáo có lịch sử hơn một thế kỷ. Hàng Kênh được thành lập với tư cách giáo họ từ năm 1893, từng trực thuộc Giáo xứ Nam Pháp trước khi chính thức được nâng lên hàng giáo xứ năm 2020. Từ một giáo họ lâu đời giữa lòng thành phố, Hàng Kênh ngày nay vừa phục vụ cộng đoàn địa phương, vừa trở thành điểm quy tụ của nhiều người Công giáo từ các nơi đến Hải Phòng sinh sống và làm việc.

Giữa vùng đồng bằng được nhận diện bằng những con kinh mang số, Giáo xứ Truyền Tin nằm bên Kinh 8A, thuộc Giáo hạt Tân Thạnh, Giáo phận Long Xuyên. Trước đây, địa chỉ quen thuộc của nhà thờ là Thạnh Đông A, huyện Tân Hiệp, tỉnh Kiên Giang; sau thay đổi địa giới hành chính, khu vực này thuộc xã Thạnh Đông, tỉnh An Giang. Tên gọi Kinh 8A vẫn còn đó, gắn nhà thờ với một không gian rất đặc trưng của miền Tây: những con kinh thẳng dài, ruộng lúa và các xóm dân cư hình thành dọc hai bên bờ nước.

Giữa một vùng ven biển vốn được hình dung bằng những bãi cát thấp và Biển Đông, Khu bảo tồn thiên nhiên Bình Châu – Phước Bửu còn có những điểm địa hình cao hơn nằm trong rừng. Tầm Bồ là một trong số đó. Với độ cao khoảng 114 m, nơi đây không phải một ngọn núi lớn, nhưng đủ để mở ra một góc nhìn khác về vùng đất: từ rừng nhìn về phía dải biển Hồ Cốc – Hồ Tràm.Câu chuyện của Tầm Bồ vì thế không nằm ở độ cao. Điều đáng chú ý là vị trí của một điểm cao giữa khu rừng tự nhiên nằm rất gần biển.

Ở phía biển của Bình Châu có một khoảng cửa nước nối không gian phía trong với Biển Đông. Trên bản đồ địa danh biển Việt Nam, nơi này mang tên Cửa Bình Châu. Gần đó là Đầm Bình Châu, cảng cá, khu neo đậu tàu thuyền và những công trình phục vụ hoạt động nghề biển.

Trên hành trình từ vùng đất phía trong Đông Nam Bộ về cửa biển Lộc An, sông Ray đi qua một công trình đã làm thay đổi đáng kể cảnh quan và vai trò của dòng nước: Hồ Sông Ray. Với dung tích hơn 215 triệu m³, đây không đơn thuần là một mặt hồ rộng giữa vùng nông nghiệp mà là một hồ chứa có vai trò quan trọng đối với nguồn nước của cả khu vực.

Trước khi gặp Biển Đông tại Lộc An, nước của sông Ray đã đi qua một hành trình dài từ vùng đất phía trong của Đông Nam Bộ. Dòng sông đi qua địa bàn Đồng Nai, tiếp tục chảy về phía nam, qua hồ chứa Sông Ray rồi cuối cùng mở ra vùng cửa biển Lộc An. Nếu nhìn Lộc An từ phía biển, sông Ray là dòng nước đi đến điểm kết thúc; nhưng nếu lần ngược dòng, đó lại là một câu chuyện kéo dài qua nhiều vùng đất.

Ở phía biển của xã Bình Châu, những con tàu đánh cá, bến neo đậu và hoạt động mua bán thủy sản tạo nên một diện mạo rất khác với rừng hay suối khoáng nóng thường được nhắc đến khi nói về vùng đất này. Nơi người dân quen gọi là Cảng cá Bình Châu cũng gắn với tên Bến Lội trong các tài liệu quản lý nghề cá, lưu giữ một phần đời sống biển đã hình thành và tiếp diễn qua nhiều năm.

Giữa vùng rừng ven biển Bình Châu, có một hiện tượng tự nhiên đã khiến tên Bình Châu được biết đến từ rất lâu trước khi những khu nghỉ dưỡng hiện đại xuất hiện: nước nóng từ lòng đất. Hàng chục điểm nước khoáng nóng lộ thiên, có nơi đạt nhiệt độ khoảng 80°C, tạo nên một không gian đặc biệt giữa rừng, cách Biển Đông không xa.