Đang tải bài viết…
Đang tải bài viết…
Giữa vùng cát trắng và những cánh đồng muối gần biển phía nam Phan Thiết, Giáo xứ Cửa Cạn thuộc Giáo hạt Hàm Thuận Nam, Giáo phận Phan Thiết là một cộng đoàn Công giáo còn khá trẻ. Trước năm 1975, nơi đây chỉ có vài gia đình Công giáo sống giữa vùng đất khô cằn. Qua những đợt di dân, từ những buổi đọc kinh tại gia đình, một nhà nguyện nhỏ rồi Giáo họ biệt lập Cửa Cạn dần hình thành. Ngôi thánh đường được cung hiến năm 2020 đánh dấu một chặng đường dài của cộng đoàn trên vùng đất từng được chính người dân nhớ đến bằng hình ảnh “muối mặn và cát trắng”.
Cửa Cạn nằm về phía biển, cách trung tâm Giáo xứ Hiệp Nghĩa hơn 9 km. Từ Quốc lộ 1A, theo tuyến đường đi qua vùng Tân Thuận rồi hướng về phía đông, cảnh quan dần chuyển sang những vùng cát trắng và các cánh đồng muối.
Đây không phải vùng đất thuận lợi cho những cộng đồng dân cư đông đúc hình thành từ sớm. Điều kiện tự nhiên khắc nghiệt, giao thông từng rất khó khăn, đời sống người dân chủ yếu dựa vào làm muối, nương rẫy và những sinh kế gắn với vùng ven biển.
Chính trên vùng đất ấy, cộng đoàn Công giáo Cửa Cạn bắt đầu hình thành từ một số rất ít gia đình.
Theo lược sử được công bố trong ngày cung hiến Nhà thờ Cửa Cạn năm 2020, trước năm 1975 đã có một số gia đình đến vùng Cửa Cạn làm muối và nương rẫy, trong đó có hai gia đình Công giáo.
Do ảnh hưởng của chiến tranh và việc dồn dân lập ấp, cư dân Cửa Cạn phải chuyển về Ba Đăng, thuộc khu vực Hiệp Thành – Tân Hải sau này. Sau ngày 30/04/1975, những gia đình cũ cùng một số người dân khác bắt đầu trở lại Cửa Cạn để tái lập cuộc sống.
Năm 1978, có thêm tám hộ gia đình từ Hiệp Nghĩa về đây. Khoảng năm 1982, thêm khoảng 20 hộ đến định cư, phần lớn có nguồn gốc từ Thừa Thiên – Huế.
Từ những gia đình rải rác ấy, một cộng đồng Công giáo nhỏ bắt đầu hiện diện giữa vùng cát.
Đời sống của những người dân Cửa Cạn trong giai đoạn đầu khá khó khăn. Đất cát trắng, điều kiện sản xuất hạn chế, giao thông bất tiện và cơ sở hạ tầng gần như chưa có. Mãi đến năm 1997, khu vực này mới có điện.
Về mặt mục vụ, Cửa Cạn ban đầu thuộc Giáo xứ Tinh Hoa vì khi ấy địa bàn còn nằm trong huyện Hàm Tân. Đến năm 1984, khu vực Cửa Cạn – thôn Thanh Phong được điều chỉnh về xã Tân Thuận, huyện Hàm Thuận Nam và cộng đoàn Công giáo Cửa Cạn được nhập về Giáo xứ Hiệp Nghĩa.
Khoảng cách hơn 9 km từ Cửa Cạn đến trung tâm Giáo xứ Hiệp Nghĩa là một trở ngại đáng kể trong điều kiện giao thông thời bấy giờ. Dù vậy, các linh mục và những đoàn thể của Hiệp Nghĩa vẫn thường xuyên đến thăm hỏi và đồng hành với các gia đình Công giáo nơi đây.
Năm 1994, cha Phanxicô Xaviê Đinh Tân Thời về phục vụ Giáo xứ Hiệp Nghĩa. Nhận thấy nhu cầu đời sống đức tin của những gia đình tại Cửa Cạn, ngài tổ chức Thánh lễ đầu tiên cho cộng đoàn vào mùng 6 Tết năm 1994, tại nhà ông Phêrô Trần Văn Kiêm.
Đó là một dấu mốc giản dị nhưng quan trọng. Cửa Cạn khi ấy chưa có nhà thờ, cũng chưa có nhà nguyện chính thức. Một ngôi nhà của giáo dân trở thành nơi cộng đoàn tập trung để cùng cử hành Thánh lễ.
Từ những lần gặp gỡ như vậy, nhu cầu có một nơi cầu nguyện riêng ngày càng rõ hơn.
Năm 1996, gia đình ông Gioan Baotixita Lê Tưởng cho cộng đoàn mượn đất, trong khi ông Giuse Trần Trí Thông hiến một ngôi nhà để sử dụng làm nhà nguyện đầu tiên của Cửa Cạn.
Điều kiện mục vụ lúc ấy vẫn còn nhiều hạn chế nên linh mục chưa thể thường xuyên đến dâng lễ. Giáo dân tự quy tụ đọc kinh vào mỗi buổi tối và tổ chức Phụng vụ Lời Chúa vào sáng Chúa Nhật.
Tháng 8/1998, gia đình ông Phêrô Trần Văn Kiêm làm đơn hiến 1.300 m² đất để cộng đoàn có nơi xây dựng nhà thờ trong tương lai. Năm 2000, cha Augustinô Nguyễn Đức Lợi tiếp tục mua thêm khoảng 3.000 m², từng bước hình thành quỹ đất cho Cửa Cạn.
Ngày 24/12/2000, cha Augustinô Nguyễn Đức Lợi về Cửa Cạn cử hành Thánh lễ đêm Giáng Sinh.
Từ dấu mốc này, Nhà nguyện Cửa Cạn bắt đầu có Thánh lễ Chúa Nhật thường xuyên. Đối với một cộng đồng từng phải đi hơn 9 km để đến nhà thờ mẹ, việc có Thánh lễ ngay tại nơi mình sinh sống tạo ra một thay đổi lớn.
Cộng đoàn ngày càng ổn định, các gia đình mới tiếp tục đến sinh sống và nhu cầu tổ chức đời sống mục vụ riêng cũng lớn dần.
Năm 2007, với sự chấp thuận của cha Augustinô Nguyễn Đức Lợi và Ban Thường vụ Giáo xứ Hiệp Nghĩa, Cửa Cạn được tách khỏi Giáo họ Phêrô để trở thành Giáo họ biệt lập Cửa Cạn.
Ban đầu cộng đoàn chọn Thánh Augustinô làm bổn mạng, kính ngày 28/8. Cũng trong năm 2007, cha Giuse Nguyễn Đức Khẩn tiếp tục công việc mục vụ tại Hiệp Nghĩa và đặc biệt quan tâm đến sự phát triển của Cửa Cạn.
Năm 2010, ngài mua thêm hơn 2.000 m² đất, san lấp mặt bằng và di chuyển nhà nguyện về khu đất chính thức của giáo họ. Từ những phần đất do giáo dân hiến tặng và giáo xứ mua thêm qua nhiều giai đoạn, Cửa Cạn dần có được không gian cần thiết để xây dựng một trung tâm mục vụ lâu dài.
Năm 2019, cha Giuse Nguyễn Đức Khẩn cùng cộng đoàn Cửa Cạn chọn hai Thánh Tông đồ Phêrô và Phaolô làm bổn mạng, thay cho Thánh Augustinô trước đó.
Ngày lễ bổn mạng được cử hành vào 29/06 hằng năm.
Sự thay đổi này cũng đánh dấu một giai đoạn cộng đoàn đã trưởng thành hơn. Từ một nhóm gia đình sống rải rác trên vùng cát, Cửa Cạn đã trở thành một cộng đoàn có tổ chức, có đất đai, nhà nguyện và đời sống phụng vụ tương đối ổn định.
Nhưng ngôi nhà nguyện nhỏ lúc ấy không còn đáp ứng được số giáo dân ngày càng tăng.
Ngày 15/11/2016, Đức cha Giuse Vũ Duy Thống, Giám mục Giáo phận Phan Thiết, chủ sự Thánh lễ đặt viên đá đầu tiên xây dựng Nhà thờ Cửa Cạn.
Công trình được xây dựng trong gần bốn năm. Với một cộng đoàn không lớn và đời sống người dân còn nhiều khó khăn, việc dựng một ngôi thánh đường mới cần đến sự đóng góp của giáo dân, các linh mục, tu sĩ và nhiều ân nhân trong cũng như ngoài Giáo phận.
Đến năm 2020, công trình hoàn thành.
Sáng 05/11/2020, Đức cha Giuse Đỗ Mạnh Hùng, Giám mục Giáo phận Phan Thiết, đến Cửa Cạn chủ sự nghi thức làm phép nhà mục vụ, khánh thành và cung hiến Nhà thờ Cửa Cạn.
Ngày ấy đánh dấu một chặng đường dài của cộng đoàn.
Từ Thánh lễ đầu tiên tại nhà một giáo dân năm 1994, nhà nguyện được hình thành năm 1996, có Thánh lễ Chúa Nhật thường xuyên từ năm 2000, trở thành Giáo họ biệt lập năm 2007 rồi xây dựng thánh đường mới, Cửa Cạn đã từng bước có được một không gian Công giáo ổn định giữa vùng đất mình sinh sống.
Theo thống kê được công bố trong dịp cung hiến, cộng đoàn khi ấy có khoảng 135 gia đình với 520 giáo dân.
Các tư liệu của Giáo phận năm 2020 vẫn gọi cộng đoàn là Giáo họ Cửa Cạn, gắn với Giáo xứ Hiệp Nghĩa. Tuy nhiên, trong hệ thống mục vụ hiện hành, Cửa Cạn đã được ghi nhận là Giáo xứ Cửa Cạn, thuộc Giáo hạt Hàm Thuận Nam, Giáo phận Phan Thiết.
Đây là bước phát triển tiếp theo của một cộng đoàn từng bắt đầu chỉ với vài gia đình Công giáo.
Mốc chính xác của quyết định nâng Cửa Cạn từ giáo họ lên hàng giáo xứ hiện chưa thấy được công bố đầy đủ trong các tư liệu trực tuyến của Giáo phận. Vì vậy, khi xây dựng dữ liệu Mapstore, nên xác định chắc trạng thái hiện nay là Giáo xứ, nhưng không tự gán một năm thành lập giáo xứ nếu chưa có quyết định chính thức.
Trong phần lớn lịch sử, Nhà thờ Cửa Cạn được nhận diện tại thôn Thanh Phong, xã Tân Thuận, huyện Hàm Thuận Nam, tỉnh Bình Thuận.
Sau những thay đổi địa giới hành chính năm 2025, khu vực này hiện thuộc xã Tân Thành, tỉnh Lâm Đồng. Vì vậy địa chỉ mới “Tân Thành, Lâm Đồng” mà Mapstore đang sử dụng là phù hợp với hệ thống hành chính hiện nay.
Tuy nhiên, với một địa điểm đã hình thành và tồn tại nhiều năm dưới địa danh Thanh Phong – Tân Thuận – Hàm Thuận Nam – Bình Thuận, lớp địa chỉ cũ vẫn cần được giữ lại trong dữ liệu. Đây là thông tin quan trọng cho tìm kiếm, đối chiếu tài liệu và lịch sử địa phương.
Lịch sử Cửa Cạn không bắt đầu bằng một cuộc di dân lớn hay một nhà thờ được xây dựng ngay từ đầu.
Trước năm 1975 chỉ có hai gia đình Công giáo giữa vùng đất muối mặn và cát trắng. Sau chiến tranh, người dân trở về. Năm 1978 thêm tám gia đình, khoảng năm 1982 thêm khoảng hai mươi hộ, phần lớn từ Thừa Thiên – Huế. Họ làm muối, làm rẫy và gây dựng cuộc sống trong điều kiện thiếu thốn.
Rồi từ những gia đình ấy hình thành những buổi đọc kinh. Từ một ngôi nhà hình thành nhà nguyện. Từ nhà nguyện hình thành giáo họ. Và từ giáo họ, Cửa Cạn dần trưởng thành thành một giáo xứ.
Ngôi Nhà thờ Cửa Cạn được cung hiến năm 2020 vì thế không chỉ là một công trình kiến trúc. Nó là kết quả của gần nửa thế kỷ những gia đình Công giáo bám trụ trên một vùng đất không dễ sống, cùng nhau gây dựng một cộng đoàn từ những điều rất nhỏ.
Giữa những cánh đồng muối và gió biển của vùng đất phía nam Phan Thiết, câu chuyện Cửa Cạn cũng là một lát cắt về cách một xứ đạo mới được hình thành: từ con người, từ đất đai và từ những năm tháng cùng nhau ở lại.
Tên: Giáo xứ Cửa Cạn
Giáo hạt: Hàm Thuận Nam
Giáo phận: Phan Thiết
Nguồn gốc: Cộng đoàn Công giáo Cửa Cạn, sau thuộc Giáo xứ Hiệp Nghĩa
Thánh lễ đầu tiên tại Cửa Cạn: Mùng 6 Tết năm 1994
Nhà nguyện đầu tiên: Năm 1996
Trở thành Giáo họ biệt lập: Năm 2007
Bổn mạng từ năm 2019: Hai Thánh Tông đồ Phêrô và Phaolô
Lễ bổn mạng: 29/06
Đặt viên đá xây Nhà thờ Cửa Cạn: 15/11/2016
Cung hiến thánh đường: 05/11/2020
Giám mục cung hiến: Đức cha Giuse Đỗ Mạnh Hùng
Địa chỉ hiện nay: Xã Tân Thành, tỉnh Lâm Đồng
Địa chỉ trước đây: Thôn Thanh Phong, xã Tân Thuận, huyện Hàm Thuận Nam, tỉnh Bình Thuận
Loại hình: Giáo xứ Công giáo

Công ty TNHH iWater
122/6 Đặng Văn Ngữ, Phường Phú Nhuận, Thành phố Hồ Chí Minh

Công ty TNHH Rượu 5 Châu (Topruou.com)
1368/79/1/3 Lê Văn Lương, Xã Nhà Bè, Thành phố Hồ Chí Minh

Vựa Cá Thạch Nguyệt – Cửa hàng cá tươi tại phường Thới An, TP.HCM
193 Tô Ngọc Vân, Phường Thới An, Thành phố Hồ Chí Minh

MazLaw – Tổ chức đại diện sở hữu trí tuệ tại Hà Nội
430 Đê La Thành, Phường Ô Chợ Dừa, Thành phố Hà Nội

Văn phòng Luật sư Đặng Đình Ngọc – 27 Lê Văn Lương, Hà Nội
27 Lê Văn Lương, Phường Thanh Xuân, Thành phố Hà Nội

Bến Đình – nhịp sống làng chài giữa lòng Vũng Tàu
Phía sau hình ảnh những bãi biển và con đường du lịch, Vũng Tàu vẫn còn những nơi mà nhịp sống mỗi ngày bắt đầu từ ghe thuyền, lưới cá và những mẻ hải sản vừa đưa vào bờ. Bến Đình là một không gian như thế, nơi nghề biển không nằm trong ký ức mà vẫn hiện diện trong đời sống của nhiều gia đình giữa một đô thị đang đổi thay.

Mũi Nghinh Phong – nơi Núi Nhỏ vươn mình ra biển
Ở phía nam Núi Nhỏ, địa hình Vũng Tàu hạ dần rồi vươn ra biển thành Mũi Nghinh Phong. Một bên là Bãi Sau, phía ngoài là Hòn Bà, phía sau là sườn núi với Tượng Chúa Kitô Vua. Không cần một công trình lớn để tạo nên dấu ấn, chính vị trí nằm giữa núi và biển đã làm nên nét riêng của mũi đất này.

Bãi Dâu – khoảng biển dưới chân Núi Lớn
Nằm nép dưới sườn phía tây Núi Lớn, Bãi Dâu mang một dáng vẻ khác với những bãi biển quen thuộc của Vũng Tàu. Bờ biển không kéo dài rộng mở như Bãi Sau, cũng không nằm giữa trung tâm đô thị như Bãi Trước. Ở đây, núi tiến gần mặt nước, những mỏm đá chia nhỏ đường bờ và trên sườn cao là những công trình tôn giáo đã dần trở thành một phần cảnh quan của vùng biển.

Vũng Tàu – vùng đô thị biển giữa hai ngọn núi và những lớp ký ức
Giữa biển và vùng cửa vịnh phía Nam, Vũng Tàu hình thành trên một không gian mà núi, bờ biển và những tuyến nước nằm rất gần nhau. Núi Lớn, Núi Nhỏ, Bãi Trước, Bãi Sau, những làng biển cũ, ngọn hải đăng và các dấu tích tín ngưỡng cùng tạo nên một vùng đất có nhiều lớp hơn hình ảnh quen thuộc của một nơi nghỉ biển.

Vịnh Gành Rái – vùng nước nối Vũng Tàu với cửa ngõ hàng hải phía Nam
Nằm giữa Vũng Tàu và Cần Giờ, vịnh Gành Rái không hiện diện trong hình dung về du lịch biển rõ như Bãi Trước hay Bãi Sau. Nhưng nhìn từ lịch sử và địa lý hàng hải, vùng nước này lại giúp giải thích một phần quan trọng về vị trí của Vũng Tàu: nơi biển mở vào hệ thống sông, cảng và những tuyến giao thông thủy dẫn sâu vào vùng Đông Nam Bộ.

Aultmore Distillery – Nhà chưng cất whisky giữa vùng Foggie Moss, Speyside, Scotland
Aultmore Distillery là nhà chưng cất Scotch whisky nằm gần thị trấn Keith, thuộc vùng Speyside của Scotland. Được Alexander Edward thành lập và bắt đầu sản xuất năm 1897, Aultmore đã tồn tại hơn 125 năm giữa một khu vực từ lâu gắn với nghề chưng cất whisky.

The Glenrothes Distillery – Nhà chưng cất Speyside từ năm 1879 tại Rothes, Scotland
The Glenrothes Distillery là nhà chưng cất Single Malt Scotch Whisky nằm tại Rothes, Moray, Scotland, ngay trung tâm vùng whisky Speyside. Được thành lập năm 1879, nhà chưng cất trải qua gần 150 năm phát triển và ngày nay là một trong những tên tuổi lâu đời gắn với thị trấn Rothes.

Stirling Distillery – Khi whisky trở lại dưới chân lâu đài Stirling sau hơn 170 năm
Ngay dưới chân Stirling Castle, giữa khu phố cổ mang đậm dấu ấn lịch sử Scotland, một nhà chưng cất nhỏ đang viết tiếp câu chuyện từng bị gián đoạn hơn một thế kỷ. Stirling Distillery không có quy mô lớn, nhưng vị trí, lịch sử và hành trình đưa whisky trở lại thành phố Stirling khiến nơi đây trở thành một điểm đáng chú ý trên bản đồ whisky Scotland.

Kininvie Distillery – Nhà chưng cất Speyside kín tiếng của William Grant & Sons
Kininvie Distillery là nhà chưng cất Single Malt Scotch Whisky nằm tại Dufftown, Moray, Scotland, thuộc vùng whisky Speyside. Được William Grant & Sons xây dựng năm 1990, Kininvie có vị trí đặc biệt khi nằm ngay trong khu vực của The Balvenie Distillery và gần Glenfiddich – hai nhà chưng cất nổi tiếng cùng thuộc tập đoàn gia đình William Grant & Sons.

Auchentoshan Distillery – Nhà chưng cất whisky Lowland hơn 200 năm bên Glasgow, Scotland
Auchentoshan Distillery là nhà chưng cất Scotch whisky nằm tại Clydebank, ở phía tây bắc Glasgow, Scotland. Nhà chưng cất có lịch sử chính thức từ năm 1823 và ngày nay được biết đến đặc biệt với phương pháp chưng cất ba lần – Triple Distillation, tạo nên phong cách nhẹ, tươi và mềm mại đặc trưng của Auchentoshan Single Malt Scotch Whisky.

Phía sau hình ảnh những bãi biển và con đường du lịch, Vũng Tàu vẫn còn những nơi mà nhịp sống mỗi ngày bắt đầu từ ghe thuyền, lưới cá và những mẻ hải sản vừa đưa vào bờ. Bến Đình là một không gian như thế, nơi nghề biển không nằm trong ký ức mà vẫn hiện diện trong đời sống của nhiều gia đình giữa một đô thị đang đổi thay.

Ở phía nam Núi Nhỏ, địa hình Vũng Tàu hạ dần rồi vươn ra biển thành Mũi Nghinh Phong. Một bên là Bãi Sau, phía ngoài là Hòn Bà, phía sau là sườn núi với Tượng Chúa Kitô Vua. Không cần một công trình lớn để tạo nên dấu ấn, chính vị trí nằm giữa núi và biển đã làm nên nét riêng của mũi đất này.

Nằm nép dưới sườn phía tây Núi Lớn, Bãi Dâu mang một dáng vẻ khác với những bãi biển quen thuộc của Vũng Tàu. Bờ biển không kéo dài rộng mở như Bãi Sau, cũng không nằm giữa trung tâm đô thị như Bãi Trước. Ở đây, núi tiến gần mặt nước, những mỏm đá chia nhỏ đường bờ và trên sườn cao là những công trình tôn giáo đã dần trở thành một phần cảnh quan của vùng biển.

Giữa biển và vùng cửa vịnh phía Nam, Vũng Tàu hình thành trên một không gian mà núi, bờ biển và những tuyến nước nằm rất gần nhau. Núi Lớn, Núi Nhỏ, Bãi Trước, Bãi Sau, những làng biển cũ, ngọn hải đăng và các dấu tích tín ngưỡng cùng tạo nên một vùng đất có nhiều lớp hơn hình ảnh quen thuộc của một nơi nghỉ biển.

Nằm giữa Vũng Tàu và Cần Giờ, vịnh Gành Rái không hiện diện trong hình dung về du lịch biển rõ như Bãi Trước hay Bãi Sau. Nhưng nhìn từ lịch sử và địa lý hàng hải, vùng nước này lại giúp giải thích một phần quan trọng về vị trí của Vũng Tàu: nơi biển mở vào hệ thống sông, cảng và những tuyến giao thông thủy dẫn sâu vào vùng Đông Nam Bộ.

Trải dài từ chân Núi Nhỏ về phía đông bắc, Bãi Sau là dải bờ biển rộng và quen thuộc của Vũng Tàu. Nếu Bãi Trước gắn nhiều hơn với phần đô thị hình thành bên một bờ vịnh, Bãi Sau mở thẳng ra biển, nơi bãi cát, đường Thùy Vân và những lớp dịch vụ nghỉ dưỡng đã phát triển song song qua nhiều thời kỳ.

Nằm giữa Núi Lớn và Núi Nhỏ, Bãi Trước là nơi biển tiến sâu vào vùng đô thị và tạo thành một vòng cung tự nhiên trước trung tâm Vũng Tàu. Qua thời gian, bờ vịnh không chỉ giữ vai trò cảnh quan mà còn trở thành nơi thành phố hướng mặt ra biển, với công viên, đường phố, những công trình lâu đời và nhịp sống đô thị nối tiếp nhau dọc theo mép nước.

Nằm sát biển và trải rộng ở phía bắc khu vực trung tâm Vũng Tàu, Núi Lớn không chỉ tạo nên một phần địa hình đặc trưng của vùng đất này. Trên sườn núi và quanh chân núi còn có Bạch Dinh, Bãi Dâu, Thích Ca Phật Đài, những trận địa pháo cũ cùng nhiều dấu tích của lịch sử, tôn giáo và đời sống đô thị hình thành qua nhiều thời kỳ.

Nằm sát biển ở phía nam Vũng Tàu, Núi Nhỏ không lớn về quy mô nhưng tập trung nhiều dấu ấn quen thuộc của vùng đất này. Từ Hải đăng Vũng Tàu, Tượng Chúa Kitô Vua đến những trận địa pháo cũ và Mũi Nghinh Phong dưới chân núi, mỗi địa danh kể một câu chuyện khác nhau về vị trí của ngọn núi giữa đô thị và biển.