Đang tải bài viết…
Đang tải bài viết…
Nằm dọc Quốc lộ 20 trên vùng đất Tân Phú, Giáo xứ Ngọc Lâm thuộc Giáo hạt Phương Lâm, Giáo phận Xuân Lộc là một xứ đạo hình thành từ cuộc di dân đặc biệt năm 1973. Từ 180 gia đình với 1.160 người đi tìm một vùng đất mới, cộng đoàn đã khai phá rừng, dựng nhà, làm rẫy và xây dựng giáo xứ. Hơn nửa thế kỷ sau, Ngọc Lâm đã trở thành một trong những cộng đoàn Công giáo đông đảo của vùng Tân Phú, với hơn 17.000 giáo dân.
Câu chuyện Ngọc Lâm bắt đầu vào những năm cuối thập niên 1960. Khi ấy, cha Giuse Maria Phạm Quang Thiều đang coi sóc Giáo xứ An Hải thuộc Giáo phận Đà Nẵng. Trước những khó khăn về sinh kế của nhiều gia đình Công giáo trong vùng, ngài bắt đầu nghĩ đến việc tìm một vùng đất mới để người dân có thể lập nghiệp lâu dài.
Sau quá trình tìm kiếm, vùng đất dọc Quốc lộ 20 thuộc khu vực Tân Phú ngày nay được lựa chọn. Đây khi ấy còn là một vùng đất rộng, nhiều rừng, đất đá ong và điều kiện sinh hoạt thiếu thốn. Cuộc di dân được tổ chức chủ yếu bằng khả năng của chính các gia đình tham gia.
Từ cuối năm 1972, hơn 100 gia đình đã tập trung tại Trung tâm Saviô của Dòng Don Bosco ở Thủ Đức để tạm trú trong thời gian chuẩn bị lên vùng đất mới. Do phần đất ban đầu nằm xa Quốc lộ 20, việc đi lại khó khăn, cha Giuse Maria Phạm Quang Thiều mua thêm hơn hai mẫu đất sát phía bắc Quốc lộ 20, khoảng cây số 130, làm nơi tập trung ban đầu cho cộng đoàn.
Ngày 17/03/1973, 180 gia đình với tổng cộng 1.160 người rời Trung tâm Saviô và một số giáo xứ khác như Châu Bình, Phú Bình, Bình An, Xóm Mới, Hố Nai, Võ Dõng để đến vùng đất mới.
Hai ngày sau, 19/03, đúng lễ kính Thánh Giuse, cộng đoàn cử hành Thánh lễ rồi bắt đầu công việc khai phá rừng. Người dân mang theo dao, búa, liềm và những dụng cụ lao động để mở đất, dựng nhà và chuẩn bị ruộng rẫy.
Với thế hệ đầu tiên của Ngọc Lâm, đây không chỉ là việc chuyển nơi cư trú. Họ gần như phải bắt đầu lại cuộc sống giữa một vùng đất mới, từ nơi ở, đường đi, nguồn nước đến đất sản xuất.
Chính từ những ngày tháng ấy, một xứ đạo bắt đầu hình thành dọc theo Quốc lộ 20.
Ngày 04/04/1973 trở thành dấu mốc chính thức trong lịch sử giáo xứ. Đức Tổng Giám mục Philipphê Nguyễn Kim Điền, Đức cha Phêrô Maria Phạm Ngọc Chi của Giáo phận Đà Nẵng và Đức cha Giuse Lê Văn Ấn của Giáo phận Xuân Lộc cùng hiện diện tại cộng đoàn.
Trong dịp này, Đức cha Phêrô Maria Phạm Ngọc Chi chính thức trao quyền chăm sóc những giáo dân từ Giáo phận Đà Nẵng cho Đức cha Giuse Lê Văn Ấn. Giáo phận Xuân Lộc tiếp nhận cộng đoàn và đặt dưới sự chăm sóc mục vụ của Giáo hạt La Ngà lúc bấy giờ.
Từ ngày ấy, giáo xứ chính thức mang tên Ngọc Lâm, nhận Thánh Giuse làm bổn mạng và cha Giuse Maria Phạm Quang Thiều trở thành chánh xứ tiên khởi.
Tên gọi Ngọc Lâm cũng lưu giữ một phần câu chuyện của cuộc di dân.
Theo lược sử do chính Giáo xứ Ngọc Lâm lưu lại, tên giáo xứ được đặt để ghi nhớ và tri ân Đức cha Phêrô Maria Phạm Ngọc Chi, Giám mục Giáo phận Đà Nẵng. Chính sự đồng thuận và hỗ trợ của ngài đã tạo điều kiện để cha Giuse Maria Phạm Quang Thiều cùng các gia đình Công giáo rời miền Trung vào vùng đất mới lập nghiệp.
Chữ “Ngọc” được lấy từ tên Đức cha Phạm Ngọc Chi, còn “Lâm” gợi lên vùng đất rừng nơi cộng đoàn bắt đầu cuộc sống mới. Tên gọi ấy vì thế vừa gắn với một con người vừa gắn với chính vùng đất mà những người tiên phong đã khai phá.
Năm 1974, chỉ một năm sau khi giáo xứ được thành lập, cộng đoàn cùng góp công, góp của dựng một nhà nguyện gồm sáu gian bằng gỗ, vách ván và mái tôn. Đây trở thành trung tâm đời sống đức tin của những gia đình đang từng ngày ổn định cuộc sống.
Dân số Ngọc Lâm tăng rất nhanh. Năm 1974, cộng đoàn đã có khoảng 2.540 người, trong đó 2.520 người Công giáo. Giáo xứ được tổ chức thành năm khu ban đầu gồm Rạng Đông, Tử Đạo, Bắc Thần, Toàn Mỹ và Sao Mai.
Đất cư trú cũng được mở rộng dọc Quốc lộ 20 từ khu vực cây số 130 xuống cây số 128. Một số gia đình có điều kiện còn mua đất bằng tiền riêng rồi giao lại cho giáo xứ chia cho những gia đình khó khăn. Những lô đất ở được phân chia để người dân dựng nhà, từng bước hình thành nên khu dân cư Ngọc Lâm.
Vị trí của Ngọc Lâm khá đặc biệt. Giáo xứ phát triển theo trục Quốc lộ 20, tuyến đường nối Đồng Nai với cao nguyên Lâm Đồng. Địa bàn lịch sử kéo dài khoảng 2 km dọc quốc lộ, từ cây số 128 đến cây số 130, nhưng chiều ngang trải rộng nhiều kilômét từ vùng Bàu Mây gần sông La Ngà đến Bàu Chim về phía Núi Tượng.
Từ một cộng đồng di dân tập trung, Ngọc Lâm dần mở rộng thành nhiều khu dân cư. Những vùng rừng được khai phá thành đất sản xuất; nhà cửa, đường sá và các cơ sở cộng đồng lần lượt hình thành.
Sự phát triển của giáo xứ vì thế đi song song với quá trình hình thành một vùng dân cư mới của Tân Phú.
Sau hơn 15 năm sử dụng, ngôi nhà thờ gỗ năm 1974 không còn đáp ứng được quy mô cộng đoàn. Năm 1990, Giáo xứ Ngọc Lâm khởi công xây dựng một ngôi thánh đường mới với kích thước khoảng 54 x 18 mét.
Công trình được hoàn thành và khánh thành năm 1993. Từ đây, Ngọc Lâm có một không gian phụng vụ rộng hơn, phù hợp với một giáo xứ đang tăng nhanh về dân số.
Trong những năm tiếp theo, nhà xứ, nhà giáo lý và nhiều công trình phục vụ sinh hoạt cộng đồng tiếp tục được xây dựng. Nhà thờ cũng trải qua các đợt trùng tu, đặc biệt từ năm 2012 và những năm sau đó, để đáp ứng nhu cầu của một cộng đoàn ngày càng đông.
Một dấu hiệu cho thấy sự phát triển của Ngọc Lâm là từ địa bàn giáo xứ đã hình thành thêm những cộng đoàn Công giáo mới.
Tiêu biểu là Giáo xứ Bích Lâm. Trước đây, Bích Lâm là Giáo họ Phanxicô thuộc Giáo xứ Ngọc Lâm. Khi dân cư tăng lên và cộng đoàn đủ điều kiện phát triển độc lập, ngày 13/10/2012, Đức cha Đaminh Nguyễn Chu Trinh chính thức thành lập Giáo xứ Bích Lâm.
Việc một giáo họ phát triển thành giáo xứ riêng cho thấy Ngọc Lâm không chỉ tăng về số giáo dân mà còn trở thành một trong những cộng đoàn góp phần mở rộng mạng lưới Công giáo trên vùng Tân Phú.
Khi Giáo xứ Ngọc Lâm được thành lập năm 1973, cộng đoàn thuộc Giáo hạt La Ngà. Đến năm 1976, Giáo phận Xuân Lộc chia Giáo hạt La Ngà thành hai giáo hạt Túc Trưng và Phương Lâm; từ đó Ngọc Lâm thuộc Giáo hạt Phương Lâm.
Giáo hạt Phương Lâm bao phủ vùng Tân Phú, nơi nhiều giáo xứ hình thành từ những cuộc di dân và quá trình khai phá đất đai trong nửa sau thế kỷ XX. Trong lịch sử giáo hạt, Ngọc Lâm là một trong những giáo xứ có tốc độ phát triển dân số đáng chú ý.
Từ 1.160 người tiên phong năm 1973, sau 50 năm giáo xứ đã có hơn 16.000 giáo dân. Theo thống kê được Giáo xứ Ngọc Lâm cập nhật cuối năm 2025, cộng đoàn có khoảng 17.315 giáo dân thuộc 4.847 gia đình.
Quy mô của Ngọc Lâm ngày nay thể hiện khá rõ qua cách tổ chức cộng đoàn. Giáo xứ đã phát triển thành nhiều giáo họ như Rạng Đông, Tử Đạo, Truyền Tin, Mẫu Tâm, Mẹ Thiên Chúa, Thăm Viếng, Mân Côi, Vô Nhiễm, Trinh Vương, Giuse Thợ, Mông Triệu, La Vang, Bàu Chim và cộng đoàn Bàu Mây.
Từ năm khu ban đầu năm 1974 đến hệ thống các giáo họ hiện nay là một hành trình hơn nửa thế kỷ. Đằng sau sự thay đổi ấy là nhiều thế hệ con cháu của những gia đình tiên phong cùng những lớp dân cư đến Ngọc Lâm trong những giai đoạn sau.
Người đến khai phá vùng đất mới ngày nào dần trở thành ông bà, cha mẹ của những thế hệ sinh ra ngay tại Tân Phú. Với họ, Ngọc Lâm không còn là “đất mới” mà đã trở thành quê hương.
Trong nhiều năm, địa bàn Giáo xứ Ngọc Lâm trải trên khu vực hai xã Phú Xuân và Phú Thanh, huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai. Những địa danh Ngọc Lâm 1, Ngọc Lâm 2, cây số 128, cây số 130 và Quốc lộ 20 xuất hiện thường xuyên trong lịch sử của giáo xứ.
Sau những thay đổi hành chính, địa chỉ hiện hành được Giáo xứ Ngọc Lâm cập nhật là số 15, tổ 1, Khu phố 8, phường Tân Phú, tỉnh Đồng Nai.
Đối với Mapstore, lớp địa chỉ cũ vẫn cần được giữ lại bởi phần lớn tư liệu lịch sử, giấy tờ và những người từng sinh sống tại đây vẫn nhận diện Ngọc Lâm qua các địa danh Phú Xuân, Phú Thanh và huyện Tân Phú.
Lịch sử Ngọc Lâm không bắt đầu từ một nhà thờ cổ hay một làng Công giáo tồn tại hàng trăm năm. Nó bắt đầu từ một quyết định rời quê.
Ngày 17/03/1973, 180 gia đình với 1.160 con người đến một vùng đất còn nhiều rừng và đá ong. Hai ngày sau, họ cùng nhau mở rừng. Ngày 04/04, Giáo xứ Ngọc Lâm chính thức ra đời. Năm 1974, ngôi nhà thờ gỗ đầu tiên được dựng lên.
Năm mươi năm sau, vùng đất ấy đã trở thành nơi sinh sống của hàng chục nghìn người, trong đó hơn 17.000 người thuộc cộng đoàn Công giáo Ngọc Lâm.
Những con số cho thấy sự phát triển, nhưng điều còn lại phía sau chúng là câu chuyện của nhiều thế hệ. Một thế hệ rời quê đi tìm đất sống, một thế hệ khai phá và dựng xây, rồi những thế hệ tiếp theo sinh ra trên chính vùng đất mà cha ông họ từng gọi là “đất mới”.
Đó cũng là cách Ngọc Lâm từ một cuộc di dân năm 1973 dần trở thành một vùng đất, một cộng đoàn và một quê hương.
Tên: Giáo xứ Ngọc Lâm
Giáo hạt: Phương Lâm
Giáo phận: Xuân Lộc
Bổn mạng: Thánh Giuse – kính ngày 19/03
Ngày những gia đình tiên phong đến vùng đất mới: 17/03/1973
Số người tiên phong: 180 gia đình, 1.160 người
Ngày thành lập giáo xứ: 04/04/1973
Giám mục tiếp nhận và thành lập: Đức cha Giuse Lê Văn Ấn
Đấng sáng lập – Chánh xứ tiên khởi: Giuse Maria Phạm Quang Thiều
Nhà thờ gỗ đầu tiên: Năm 1974
Khởi công nhà thờ mới: Năm 1990
Khánh thành: Năm 1993
Giáo dân: Khoảng 17.315 người, 4.847 gia đình theo thống kê cuối năm 2025
Địa chỉ hiện nay: Số 15, tổ 1, Khu phố 8, phường Tân Phú, tỉnh Đồng Nai
Địa bàn trước đây: Khu vực Phú Xuân – Phú Thanh, huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai
Trục địa lý: Quốc lộ 20, khoảng km 128–130
Loại hình: Giáo xứ Công giáo

Công ty TNHH iWater
122/6 Đặng Văn Ngữ, Phường Phú Nhuận, Thành phố Hồ Chí Minh

Công ty TNHH Rượu 5 Châu (Topruou.com)
1368/79/1/3 Lê Văn Lương, Xã Nhà Bè, Thành phố Hồ Chí Minh

Vựa Cá Thạch Nguyệt – Cửa hàng cá tươi tại phường Thới An, TP.HCM
193 Tô Ngọc Vân, Phường Thới An, Thành phố Hồ Chí Minh

MazLaw – Tổ chức đại diện sở hữu trí tuệ tại Hà Nội
430 Đê La Thành, Phường Ô Chợ Dừa, Thành phố Hà Nội

Văn phòng Luật sư Đặng Đình Ngọc – 27 Lê Văn Lương, Hà Nội
27 Lê Văn Lương, Phường Thanh Xuân, Thành phố Hà Nội

Bến Đình – nhịp sống làng chài giữa lòng Vũng Tàu
Phía sau hình ảnh những bãi biển và con đường du lịch, Vũng Tàu vẫn còn những nơi mà nhịp sống mỗi ngày bắt đầu từ ghe thuyền, lưới cá và những mẻ hải sản vừa đưa vào bờ. Bến Đình là một không gian như thế, nơi nghề biển không nằm trong ký ức mà vẫn hiện diện trong đời sống của nhiều gia đình giữa một đô thị đang đổi thay.

Mũi Nghinh Phong – nơi Núi Nhỏ vươn mình ra biển
Ở phía nam Núi Nhỏ, địa hình Vũng Tàu hạ dần rồi vươn ra biển thành Mũi Nghinh Phong. Một bên là Bãi Sau, phía ngoài là Hòn Bà, phía sau là sườn núi với Tượng Chúa Kitô Vua. Không cần một công trình lớn để tạo nên dấu ấn, chính vị trí nằm giữa núi và biển đã làm nên nét riêng của mũi đất này.

Bãi Dâu – khoảng biển dưới chân Núi Lớn
Nằm nép dưới sườn phía tây Núi Lớn, Bãi Dâu mang một dáng vẻ khác với những bãi biển quen thuộc của Vũng Tàu. Bờ biển không kéo dài rộng mở như Bãi Sau, cũng không nằm giữa trung tâm đô thị như Bãi Trước. Ở đây, núi tiến gần mặt nước, những mỏm đá chia nhỏ đường bờ và trên sườn cao là những công trình tôn giáo đã dần trở thành một phần cảnh quan của vùng biển.

Vũng Tàu – vùng đô thị biển giữa hai ngọn núi và những lớp ký ức
Giữa biển và vùng cửa vịnh phía Nam, Vũng Tàu hình thành trên một không gian mà núi, bờ biển và những tuyến nước nằm rất gần nhau. Núi Lớn, Núi Nhỏ, Bãi Trước, Bãi Sau, những làng biển cũ, ngọn hải đăng và các dấu tích tín ngưỡng cùng tạo nên một vùng đất có nhiều lớp hơn hình ảnh quen thuộc của một nơi nghỉ biển.

Vịnh Gành Rái – vùng nước nối Vũng Tàu với cửa ngõ hàng hải phía Nam
Nằm giữa Vũng Tàu và Cần Giờ, vịnh Gành Rái không hiện diện trong hình dung về du lịch biển rõ như Bãi Trước hay Bãi Sau. Nhưng nhìn từ lịch sử và địa lý hàng hải, vùng nước này lại giúp giải thích một phần quan trọng về vị trí của Vũng Tàu: nơi biển mở vào hệ thống sông, cảng và những tuyến giao thông thủy dẫn sâu vào vùng Đông Nam Bộ.

Aultmore Distillery – Nhà chưng cất whisky giữa vùng Foggie Moss, Speyside, Scotland
Aultmore Distillery là nhà chưng cất Scotch whisky nằm gần thị trấn Keith, thuộc vùng Speyside của Scotland. Được Alexander Edward thành lập và bắt đầu sản xuất năm 1897, Aultmore đã tồn tại hơn 125 năm giữa một khu vực từ lâu gắn với nghề chưng cất whisky.

The Glenrothes Distillery – Nhà chưng cất Speyside từ năm 1879 tại Rothes, Scotland
The Glenrothes Distillery là nhà chưng cất Single Malt Scotch Whisky nằm tại Rothes, Moray, Scotland, ngay trung tâm vùng whisky Speyside. Được thành lập năm 1879, nhà chưng cất trải qua gần 150 năm phát triển và ngày nay là một trong những tên tuổi lâu đời gắn với thị trấn Rothes.

Stirling Distillery – Khi whisky trở lại dưới chân lâu đài Stirling sau hơn 170 năm
Ngay dưới chân Stirling Castle, giữa khu phố cổ mang đậm dấu ấn lịch sử Scotland, một nhà chưng cất nhỏ đang viết tiếp câu chuyện từng bị gián đoạn hơn một thế kỷ. Stirling Distillery không có quy mô lớn, nhưng vị trí, lịch sử và hành trình đưa whisky trở lại thành phố Stirling khiến nơi đây trở thành một điểm đáng chú ý trên bản đồ whisky Scotland.

Kininvie Distillery – Nhà chưng cất Speyside kín tiếng của William Grant & Sons
Kininvie Distillery là nhà chưng cất Single Malt Scotch Whisky nằm tại Dufftown, Moray, Scotland, thuộc vùng whisky Speyside. Được William Grant & Sons xây dựng năm 1990, Kininvie có vị trí đặc biệt khi nằm ngay trong khu vực của The Balvenie Distillery và gần Glenfiddich – hai nhà chưng cất nổi tiếng cùng thuộc tập đoàn gia đình William Grant & Sons.

Auchentoshan Distillery – Nhà chưng cất whisky Lowland hơn 200 năm bên Glasgow, Scotland
Auchentoshan Distillery là nhà chưng cất Scotch whisky nằm tại Clydebank, ở phía tây bắc Glasgow, Scotland. Nhà chưng cất có lịch sử chính thức từ năm 1823 và ngày nay được biết đến đặc biệt với phương pháp chưng cất ba lần – Triple Distillation, tạo nên phong cách nhẹ, tươi và mềm mại đặc trưng của Auchentoshan Single Malt Scotch Whisky.

Phía sau hình ảnh những bãi biển và con đường du lịch, Vũng Tàu vẫn còn những nơi mà nhịp sống mỗi ngày bắt đầu từ ghe thuyền, lưới cá và những mẻ hải sản vừa đưa vào bờ. Bến Đình là một không gian như thế, nơi nghề biển không nằm trong ký ức mà vẫn hiện diện trong đời sống của nhiều gia đình giữa một đô thị đang đổi thay.

Ở phía nam Núi Nhỏ, địa hình Vũng Tàu hạ dần rồi vươn ra biển thành Mũi Nghinh Phong. Một bên là Bãi Sau, phía ngoài là Hòn Bà, phía sau là sườn núi với Tượng Chúa Kitô Vua. Không cần một công trình lớn để tạo nên dấu ấn, chính vị trí nằm giữa núi và biển đã làm nên nét riêng của mũi đất này.

Nằm nép dưới sườn phía tây Núi Lớn, Bãi Dâu mang một dáng vẻ khác với những bãi biển quen thuộc của Vũng Tàu. Bờ biển không kéo dài rộng mở như Bãi Sau, cũng không nằm giữa trung tâm đô thị như Bãi Trước. Ở đây, núi tiến gần mặt nước, những mỏm đá chia nhỏ đường bờ và trên sườn cao là những công trình tôn giáo đã dần trở thành một phần cảnh quan của vùng biển.

Giữa biển và vùng cửa vịnh phía Nam, Vũng Tàu hình thành trên một không gian mà núi, bờ biển và những tuyến nước nằm rất gần nhau. Núi Lớn, Núi Nhỏ, Bãi Trước, Bãi Sau, những làng biển cũ, ngọn hải đăng và các dấu tích tín ngưỡng cùng tạo nên một vùng đất có nhiều lớp hơn hình ảnh quen thuộc của một nơi nghỉ biển.

Nằm giữa Vũng Tàu và Cần Giờ, vịnh Gành Rái không hiện diện trong hình dung về du lịch biển rõ như Bãi Trước hay Bãi Sau. Nhưng nhìn từ lịch sử và địa lý hàng hải, vùng nước này lại giúp giải thích một phần quan trọng về vị trí của Vũng Tàu: nơi biển mở vào hệ thống sông, cảng và những tuyến giao thông thủy dẫn sâu vào vùng Đông Nam Bộ.

Trải dài từ chân Núi Nhỏ về phía đông bắc, Bãi Sau là dải bờ biển rộng và quen thuộc của Vũng Tàu. Nếu Bãi Trước gắn nhiều hơn với phần đô thị hình thành bên một bờ vịnh, Bãi Sau mở thẳng ra biển, nơi bãi cát, đường Thùy Vân và những lớp dịch vụ nghỉ dưỡng đã phát triển song song qua nhiều thời kỳ.

Nằm giữa Núi Lớn và Núi Nhỏ, Bãi Trước là nơi biển tiến sâu vào vùng đô thị và tạo thành một vòng cung tự nhiên trước trung tâm Vũng Tàu. Qua thời gian, bờ vịnh không chỉ giữ vai trò cảnh quan mà còn trở thành nơi thành phố hướng mặt ra biển, với công viên, đường phố, những công trình lâu đời và nhịp sống đô thị nối tiếp nhau dọc theo mép nước.

Nằm sát biển và trải rộng ở phía bắc khu vực trung tâm Vũng Tàu, Núi Lớn không chỉ tạo nên một phần địa hình đặc trưng của vùng đất này. Trên sườn núi và quanh chân núi còn có Bạch Dinh, Bãi Dâu, Thích Ca Phật Đài, những trận địa pháo cũ cùng nhiều dấu tích của lịch sử, tôn giáo và đời sống đô thị hình thành qua nhiều thời kỳ.

Nằm sát biển ở phía nam Vũng Tàu, Núi Nhỏ không lớn về quy mô nhưng tập trung nhiều dấu ấn quen thuộc của vùng đất này. Từ Hải đăng Vũng Tàu, Tượng Chúa Kitô Vua đến những trận địa pháo cũ và Mũi Nghinh Phong dưới chân núi, mỗi địa danh kể một câu chuyện khác nhau về vị trí của ngọn núi giữa đô thị và biển.