Đang tải bài viết…
Đang tải bài viết…
Bên dòng sông Dinh, giữa vùng đất nắng gió Phan Rang, Giáo xứ Tấn Tài thuộc Giáo hạt Phan Rang, Giáo phận Nha Trang là một trong những cộng đoàn Công giáo lâu đời của vùng Ninh Thuận xưa. Lịch sử nơi đây có thể lần về khoảng năm 1664 với xóm đạo mang tên Dinh Thủy. Hơn hai thế kỷ sau, năm 1882, Giáo xứ Tấn Tài chính thức được thành lập. Từ một cộng đoàn khai hoang bên sông, Tấn Tài dần trở thành giáo xứ mẹ của nhiều xứ đạo trong vùng và để lại những dấu ấn đặc biệt trong lịch sử phát triển của Phan Rang.
Theo tư liệu của Giáo phận Nha Trang dựa trên tài liệu Hội Thừa sai Paris, khoảng năm 1664, một nhóm giáo dân từ Bình Định và Phú Yên đi về phía nam, đến vùng Bình Thuận Bắc – tức Ninh Thuận sau này – để lập nghiệp.
Họ khai phá vùng đất bên bờ sông Dinh và gọi nơi mình sinh sống là Dinh Thủy, nghĩa là vùng nước của sông Dinh.
Đó chưa phải một giáo xứ theo tổ chức Giáo hội. Những người Công giáo sống khá biệt lập, tự dựng một nhà nguyện mái tranh vách đất để sáng chiều cùng nhau đọc kinh. Cộng đoàn bầu ra một số chức việc phụ trách việc đạo, dạy giáo lý, rửa tội trẻ nhỏ và tân tòng, giúp người đau yếu, lo việc hôn phối và mai táng.
Linh mục rất hiếm khi có thể đến với họ. Có thời kỳ phải hàng chục năm cộng đoàn mới được một linh mục ghé thăm vài ngày, thậm chí chỉ một buổi để cử hành các bí tích và hướng dẫn đời sống đức tin.
Dù vậy, xóm đạo Dinh Thủy vẫn tồn tại qua nhiều thế hệ.
Từ khoảng năm 1664 đến năm 1882 là một khoảng thời gian hơn hai thế kỷ. Chính quãng thời gian dài ấy làm cho câu chuyện Tấn Tài trở nên đặc biệt.
Cộng đoàn tồn tại trước khi có một giáo xứ chính thức, trước khi có ngôi nhà thờ kiên cố và trong điều kiện rất thiếu linh mục. Đời sống đạo phần lớn được gìn giữ ngay trong các gia đình và qua những người chức việc của xóm đạo.
Tên Dinh Thủy vì thế không mất đi khi tên Tấn Tài xuất hiện. Cho đến ngày nay, người Công giáo địa phương vẫn nhắc đến Dinh Thủy – Tấn Tài như hai lớp tên của cùng một vùng ký ức.
Năm 1882, linh mục thừa sai người Pháp Maria Aloysius Gonzague Villaume, thuộc Hội Thừa sai Paris – MEP, đến phụ trách vùng này. Người dân quen gọi ngài bằng một cái tên gần gũi: Cố Đề.
Từ đây, cộng đoàn Dinh Thủy được tổ chức thành Giáo xứ Tấn Tài. Năm 1882 vì vậy được Giáo phận Nha Trang xác định là năm chính thức thành lập giáo xứ.
Tấn Tài nhận Đức Mẹ Mân Côi làm bổn mạng, kính ngày 07/10 hằng năm.
Nếu năm 1664 là mốc khởi đầu của cộng đồng Công giáo Dinh Thủy thì năm 1882 đánh dấu bước chuyển từ một xóm đạo tồn tại qua nhiều thế hệ thành một giáo xứ có linh mục trực tiếp coi sóc.
Dấu ấn của Cố Đề tại Tấn Tài không chỉ nằm trong đời sống tôn giáo. Ngài còn tham gia rất sâu vào công việc khai hoang và thủy lợi của vùng Phan Rang.
Theo lược sử giáo xứ, Cố Đề cùng người dân khai phá hơn 300 mẫu ruộng, đào mương, đắp đập và tìm cách đưa nước vào những vùng đất canh tác.
Ở một vùng khô hạn như Phan Rang, nước quyết định khả năng tồn tại của nông nghiệp. Vì thế công việc của một nhà truyền giáo lúc ấy không tách khỏi những nhu cầu rất thực tế của người dân: làm sao có nước, có ruộng và có thể sinh sống lâu dài trên vùng đất này.
Tên gọi Mương Ông Cố vẫn còn được người dân địa phương nhắc đến. Cùng với Đập Lâm Cấm, những công trình thủy lợi gắn với giai đoạn này trở thành một phần ký ức của vùng Tấn Tài, Tấn Lộc, Mỹ An và những cánh đồng chung quanh Phan Rang.
Sau gần hai thập niên coi sóc cộng đoàn, Cố Đề để lại cho Tấn Tài một ngôi thánh đường được hoàn thành vào năm 1900.
Nhà thờ ấy vẫn hiện diện đến ngày nay.
Khác với mốc thành lập giáo xứ năm 1882, năm 1900 là mốc của ngôi Nhà thờ Tấn Tài hiện nay. Hai mốc này cần được phân biệt rõ khi xây dựng dữ liệu lịch sử.
Trải qua hơn một thế kỷ với nhiều lần tu sửa, ngôi thánh đường vẫn giữ được dáng vẻ của một nhà thờ cổ giữa không gian đô thị Phan Rang đang thay đổi nhanh chóng.
Năm 2025, Giáo xứ Tấn Tài kỷ niệm 125 năm Nhà thờ Dinh Thủy – Tấn Tài. Công trình cũng được trùng tu trong khoảng từ tháng 2 đến tháng 8/2025 trước khi cộng đoàn mừng lễ Đức Mẹ Mân Côi vào tháng 10.
Khi mới hình thành, địa bàn Tấn Tài rộng hơn rất nhiều so với giáo xứ hiện nay. Từ cộng đoàn này, nhiều giáo họ phát triển rồi lần lượt trở thành những giáo xứ độc lập.
Lược sử của Giáo phận Nha Trang ghi nhận Tấn Tài là giáo xứ mẹ gắn với quá trình hình thành của nhiều cộng đoàn như Phước Thiện, Phước Đức – Cầu Bảo, Phan Rang, Tân An – Bình Chính, Tân Hội – Láng Mung, Tân Xuân, Phú Quý, Bình Quý và Nhị Hà.
Một ví dụ rõ ràng là Giáo xứ Phan Rang. Trước năm 1963, người Công giáo sinh sống trong thị xã Phan Rang vẫn thuộc địa bàn Giáo xứ Tấn Tài. Ngày 09/01/1963, Giáo xứ Phan Rang mới chính thức được thành lập.
Từ một giáo xứ rộng lớn, Tấn Tài dần thu hẹp địa bàn khi các cộng đoàn con trưởng thành. Nhưng chính quá trình ấy cho thấy vai trò của Tấn Tài trong lịch sử phát triển Công giáo tại vùng Ninh Thuận.
Lịch sử Tấn Tài còn có một chương khá đặc biệt liên quan đến Giáo phận Thái Bình ở miền Bắc.
Sau cuộc di cư năm 1954, năm 1955, Giáo phận Thái Bình được phép mở một chủng viện trong khuôn viên Nhà xứ Tấn Tài. Cơ sở này hoạt động tại đây đến năm 1963.
Trong thời gian đó, các linh mục của Chủng viện Thái Bình vừa đảm nhận công việc đào tạo vừa hỗ trợ mục vụ cho Giáo xứ Tấn Tài. Cha Giuse Đinh Tường Huấn, Giám đốc Chủng viện, là một trong những người gắn bó thường xuyên với cộng đoàn.
Chi tiết này tạo nên một mối liên hệ khá đặc biệt: một giáo xứ lâu đời của miền Trung từng trở thành nơi tiếp nhận một cơ sở đào tạo linh mục của một giáo phận miền Bắc trong giai đoạn đất nước nhiều biến động.
Trong phần lớn lịch sử ban đầu, Tấn Tài nằm trong vùng truyền giáo thuộc Giáo phận Quy Nhơn.
Ngày 05/07/1957, Giáo phận Nha Trang được thành lập từ phần lãnh thổ tách ra khỏi Giáo phận Quy Nhơn. Từ đây, Giáo xứ Tấn Tài trở thành một giáo xứ của Giáo phận Nha Trang.
Ngày nay, Tấn Tài thuộc Giáo hạt Phan Rang.
Việc thay đổi giáo phận không làm mất đi mối liên hệ lịch sử với vùng truyền giáo cũ. Trái lại, Tấn Tài trở thành một trong những cộng đoàn giúp nhìn lại quá trình Công giáo phát triển từ Quy Nhơn xuống vùng Phan Rang – Ninh Thuận trong nhiều thế kỷ.
Lịch sử đời sống của người Tấn Tài cũng phản ánh sự thay đổi của vùng Phan Rang.
Trước đây, phần lớn giáo dân sống bằng nghề nông, đặc biệt là trồng lúa trên những cánh đồng được cung cấp nước từ hệ thống mương và đập. Về sau, khi điều kiện sản xuất thay đổi, nhiều gia đình chuyển sang trồng nho, một loại cây đã trở thành hình ảnh đặc trưng của vùng Ninh Thuận.
Bên cạnh nông nghiệp, ngày càng nhiều người chuyển sang làm tiểu thương, công nhân và những ngành nghề đô thị.
Tấn Tài vì thế chuyển dần từ một xứ đạo nông nghiệp bên sông Dinh thành một cộng đoàn nằm trong không gian đô thị Phan Rang.
Nhưng những cái tên cũ như Dinh Thủy, Mương Ông Cố hay những cánh đồng Tấn Tài vẫn lưu giữ dấu vết của một thời khai hoang.
Tên chính thức của giáo xứ là Tấn Tài, nhưng Dinh Thủy là một lớp tên rất đáng được giữ lại trong dữ liệu Mapstore.
Nó đưa lịch sử cộng đoàn trở về trước năm 1882, đến khoảng năm 1664 khi những gia đình Công giáo từ Bình Định và Phú Yên đến lập nghiệp bên sông Dinh.
Qua hơn ba thế kỷ rưỡi, tên đất thay đổi, địa giới thay đổi, những xứ đạo mới lần lượt tách ra và Phan Rang từ một vùng nông nghiệp trở thành đô thị.
Nhưng Nhà thờ Tấn Tài vẫn đứng trên vùng đất ấy.
Năm 2021–2022, giáo xứ cử hành Năm Thánh kỷ niệm 140 năm thành lập. Năm 2025, cộng đoàn tiếp tục kỷ niệm 125 năm ngôi thánh đường. Hai con số ấy mới chỉ tính từ những dấu mốc chính thức; phía trước chúng còn là hơn hai thế kỷ của cộng đoàn Dinh Thủy.
Trong hệ thống địa chỉ trước năm 2025, Nhà thờ Tấn Tài thuộc phường Tấn Tài, thành phố Phan Rang – Tháp Chàm, tỉnh Ninh Thuận. Đây là địa chỉ xuất hiện trong phần lớn tư liệu của Giáo phận và vẫn rất quan trọng đối với việc tìm kiếm lịch sử.
Sau việc sắp xếp đơn vị hành chính năm 2025, tỉnh Ninh Thuận và Khánh Hòa được tổ chức lại trong tỉnh Khánh Hòa mới. Khu vực Tấn Tài cũ hiện thuộc phường Phan Rang, tỉnh Khánh Hòa.
Đối với Mapstore, vì vậy nên giữ đồng thời hai lớp địa danh: Tấn Tài – Phan Rang – Tháp Chàm – Ninh Thuận trong dữ liệu lịch sử và phường Phan Rang – Khánh Hòa trong dữ liệu hành chính hiện hành.
Đây cũng là một trường hợp cho thấy địa danh có thể thay đổi, nhưng tên giáo xứ vẫn trở thành một cách để người dân lưu giữ tên vùng đất cũ.
Câu chuyện Tấn Tài dài hơn lịch sử chính thức của chính giáo xứ.
Khoảng năm 1664, những gia đình Công giáo từ Bình Định và Phú Yên đến bên sông Dinh, dựng một nhà nguyện mái tranh và gọi nơi mình sống là Dinh Thủy. Năm 1882, Cố Đề đến và Giáo xứ Tấn Tài chính thức hình thành. Năm 1900, ngôi nhà thờ được xây dựng. Từ đây, nhiều giáo họ lần lượt phát triển rồi trở thành những giáo xứ mới.
Nhưng có lẽ dấu ấn đặc biệt nhất của Tấn Tài nằm ở mối quan hệ giữa con người và vùng đất.
Những nhà truyền giáo không chỉ xây nhà thờ mà còn cùng người dân đào mương, đắp đập và khai hoang ruộng đồng. Những gia đình Công giáo không chỉ gìn giữ đời sống đạo mà còn cùng nhau tạo lập một vùng dân cư bên sông Dinh.
Bởi vậy, khi nhìn Nhà thờ Tấn Tài hôm nay, phía sau một công trình hơn 125 năm tuổi là lịch sử dài hơn ba thế kỷ của một cộng đồng đã sống, làm ruộng, đào mương, trồng nho và truyền lại tên Dinh Thủy từ thế hệ này sang thế hệ khác.
Tên: Giáo xứ Tấn Tài
Tên lịch sử: Dinh Thủy
Giáo hạt: Phan Rang
Giáo phận: Nha Trang
Khởi đầu cộng đoàn Công giáo: Khoảng năm 1664
Thành lập giáo xứ: Năm 1882
Cha sở tiên khởi: Linh mục Maria Aloysius Gonzague Villaume – Cố Đề, MEP
Bổn mạng: Đức Mẹ Mân Côi
Ngày kính bổn mạng: 07/10
Nhà thờ hiện nay: Xây dựng năm 1900
Kỷ niệm 125 năm nhà thờ: Năm 2025
Giáo phận trước năm 1957: Giáo phận Quy Nhơn
Thuộc Giáo phận Nha Trang: Từ năm 1957
Địa chỉ hiện nay: Khu vực Tấn Tài, phường Phan Rang, tỉnh Khánh Hòa
Địa chỉ trước đây: Phường Tấn Tài, thành phố Phan Rang – Tháp Chàm, tỉnh Ninh Thuận
Loại hình: Giáo xứ Công giáo

Công ty TNHH iWater
122/6 Đặng Văn Ngữ, Phường Phú Nhuận, Thành phố Hồ Chí Minh

Công ty TNHH Rượu 5 Châu (Topruou.com)
1368/79/1/3 Lê Văn Lương, Xã Nhà Bè, Thành phố Hồ Chí Minh

Vựa Cá Thạch Nguyệt – Cửa hàng cá tươi tại phường Thới An, TP.HCM
193 Tô Ngọc Vân, Phường Thới An, Thành phố Hồ Chí Minh

MazLaw – Tổ chức đại diện sở hữu trí tuệ tại Hà Nội
430 Đê La Thành, Phường Ô Chợ Dừa, Thành phố Hà Nội

Văn phòng Luật sư Đặng Đình Ngọc – 27 Lê Văn Lương, Hà Nội
27 Lê Văn Lương, Phường Thanh Xuân, Thành phố Hà Nội

Bến Đình – nhịp sống làng chài giữa lòng Vũng Tàu
Phía sau hình ảnh những bãi biển và con đường du lịch, Vũng Tàu vẫn còn những nơi mà nhịp sống mỗi ngày bắt đầu từ ghe thuyền, lưới cá và những mẻ hải sản vừa đưa vào bờ. Bến Đình là một không gian như thế, nơi nghề biển không nằm trong ký ức mà vẫn hiện diện trong đời sống của nhiều gia đình giữa một đô thị đang đổi thay.

Mũi Nghinh Phong – nơi Núi Nhỏ vươn mình ra biển
Ở phía nam Núi Nhỏ, địa hình Vũng Tàu hạ dần rồi vươn ra biển thành Mũi Nghinh Phong. Một bên là Bãi Sau, phía ngoài là Hòn Bà, phía sau là sườn núi với Tượng Chúa Kitô Vua. Không cần một công trình lớn để tạo nên dấu ấn, chính vị trí nằm giữa núi và biển đã làm nên nét riêng của mũi đất này.

Bãi Dâu – khoảng biển dưới chân Núi Lớn
Nằm nép dưới sườn phía tây Núi Lớn, Bãi Dâu mang một dáng vẻ khác với những bãi biển quen thuộc của Vũng Tàu. Bờ biển không kéo dài rộng mở như Bãi Sau, cũng không nằm giữa trung tâm đô thị như Bãi Trước. Ở đây, núi tiến gần mặt nước, những mỏm đá chia nhỏ đường bờ và trên sườn cao là những công trình tôn giáo đã dần trở thành một phần cảnh quan của vùng biển.

Vũng Tàu – vùng đô thị biển giữa hai ngọn núi và những lớp ký ức
Giữa biển và vùng cửa vịnh phía Nam, Vũng Tàu hình thành trên một không gian mà núi, bờ biển và những tuyến nước nằm rất gần nhau. Núi Lớn, Núi Nhỏ, Bãi Trước, Bãi Sau, những làng biển cũ, ngọn hải đăng và các dấu tích tín ngưỡng cùng tạo nên một vùng đất có nhiều lớp hơn hình ảnh quen thuộc của một nơi nghỉ biển.

Vịnh Gành Rái – vùng nước nối Vũng Tàu với cửa ngõ hàng hải phía Nam
Nằm giữa Vũng Tàu và Cần Giờ, vịnh Gành Rái không hiện diện trong hình dung về du lịch biển rõ như Bãi Trước hay Bãi Sau. Nhưng nhìn từ lịch sử và địa lý hàng hải, vùng nước này lại giúp giải thích một phần quan trọng về vị trí của Vũng Tàu: nơi biển mở vào hệ thống sông, cảng và những tuyến giao thông thủy dẫn sâu vào vùng Đông Nam Bộ.

Aultmore Distillery – Nhà chưng cất whisky giữa vùng Foggie Moss, Speyside, Scotland
Aultmore Distillery là nhà chưng cất Scotch whisky nằm gần thị trấn Keith, thuộc vùng Speyside của Scotland. Được Alexander Edward thành lập và bắt đầu sản xuất năm 1897, Aultmore đã tồn tại hơn 125 năm giữa một khu vực từ lâu gắn với nghề chưng cất whisky.

The Glenrothes Distillery – Nhà chưng cất Speyside từ năm 1879 tại Rothes, Scotland
The Glenrothes Distillery là nhà chưng cất Single Malt Scotch Whisky nằm tại Rothes, Moray, Scotland, ngay trung tâm vùng whisky Speyside. Được thành lập năm 1879, nhà chưng cất trải qua gần 150 năm phát triển và ngày nay là một trong những tên tuổi lâu đời gắn với thị trấn Rothes.

Stirling Distillery – Khi whisky trở lại dưới chân lâu đài Stirling sau hơn 170 năm
Ngay dưới chân Stirling Castle, giữa khu phố cổ mang đậm dấu ấn lịch sử Scotland, một nhà chưng cất nhỏ đang viết tiếp câu chuyện từng bị gián đoạn hơn một thế kỷ. Stirling Distillery không có quy mô lớn, nhưng vị trí, lịch sử và hành trình đưa whisky trở lại thành phố Stirling khiến nơi đây trở thành một điểm đáng chú ý trên bản đồ whisky Scotland.

Kininvie Distillery – Nhà chưng cất Speyside kín tiếng của William Grant & Sons
Kininvie Distillery là nhà chưng cất Single Malt Scotch Whisky nằm tại Dufftown, Moray, Scotland, thuộc vùng whisky Speyside. Được William Grant & Sons xây dựng năm 1990, Kininvie có vị trí đặc biệt khi nằm ngay trong khu vực của The Balvenie Distillery và gần Glenfiddich – hai nhà chưng cất nổi tiếng cùng thuộc tập đoàn gia đình William Grant & Sons.

Auchentoshan Distillery – Nhà chưng cất whisky Lowland hơn 200 năm bên Glasgow, Scotland
Auchentoshan Distillery là nhà chưng cất Scotch whisky nằm tại Clydebank, ở phía tây bắc Glasgow, Scotland. Nhà chưng cất có lịch sử chính thức từ năm 1823 và ngày nay được biết đến đặc biệt với phương pháp chưng cất ba lần – Triple Distillation, tạo nên phong cách nhẹ, tươi và mềm mại đặc trưng của Auchentoshan Single Malt Scotch Whisky.

Phía sau hình ảnh những bãi biển và con đường du lịch, Vũng Tàu vẫn còn những nơi mà nhịp sống mỗi ngày bắt đầu từ ghe thuyền, lưới cá và những mẻ hải sản vừa đưa vào bờ. Bến Đình là một không gian như thế, nơi nghề biển không nằm trong ký ức mà vẫn hiện diện trong đời sống của nhiều gia đình giữa một đô thị đang đổi thay.

Ở phía nam Núi Nhỏ, địa hình Vũng Tàu hạ dần rồi vươn ra biển thành Mũi Nghinh Phong. Một bên là Bãi Sau, phía ngoài là Hòn Bà, phía sau là sườn núi với Tượng Chúa Kitô Vua. Không cần một công trình lớn để tạo nên dấu ấn, chính vị trí nằm giữa núi và biển đã làm nên nét riêng của mũi đất này.

Nằm nép dưới sườn phía tây Núi Lớn, Bãi Dâu mang một dáng vẻ khác với những bãi biển quen thuộc của Vũng Tàu. Bờ biển không kéo dài rộng mở như Bãi Sau, cũng không nằm giữa trung tâm đô thị như Bãi Trước. Ở đây, núi tiến gần mặt nước, những mỏm đá chia nhỏ đường bờ và trên sườn cao là những công trình tôn giáo đã dần trở thành một phần cảnh quan của vùng biển.

Giữa biển và vùng cửa vịnh phía Nam, Vũng Tàu hình thành trên một không gian mà núi, bờ biển và những tuyến nước nằm rất gần nhau. Núi Lớn, Núi Nhỏ, Bãi Trước, Bãi Sau, những làng biển cũ, ngọn hải đăng và các dấu tích tín ngưỡng cùng tạo nên một vùng đất có nhiều lớp hơn hình ảnh quen thuộc của một nơi nghỉ biển.

Nằm giữa Vũng Tàu và Cần Giờ, vịnh Gành Rái không hiện diện trong hình dung về du lịch biển rõ như Bãi Trước hay Bãi Sau. Nhưng nhìn từ lịch sử và địa lý hàng hải, vùng nước này lại giúp giải thích một phần quan trọng về vị trí của Vũng Tàu: nơi biển mở vào hệ thống sông, cảng và những tuyến giao thông thủy dẫn sâu vào vùng Đông Nam Bộ.

Trải dài từ chân Núi Nhỏ về phía đông bắc, Bãi Sau là dải bờ biển rộng và quen thuộc của Vũng Tàu. Nếu Bãi Trước gắn nhiều hơn với phần đô thị hình thành bên một bờ vịnh, Bãi Sau mở thẳng ra biển, nơi bãi cát, đường Thùy Vân và những lớp dịch vụ nghỉ dưỡng đã phát triển song song qua nhiều thời kỳ.

Nằm giữa Núi Lớn và Núi Nhỏ, Bãi Trước là nơi biển tiến sâu vào vùng đô thị và tạo thành một vòng cung tự nhiên trước trung tâm Vũng Tàu. Qua thời gian, bờ vịnh không chỉ giữ vai trò cảnh quan mà còn trở thành nơi thành phố hướng mặt ra biển, với công viên, đường phố, những công trình lâu đời và nhịp sống đô thị nối tiếp nhau dọc theo mép nước.

Nằm sát biển và trải rộng ở phía bắc khu vực trung tâm Vũng Tàu, Núi Lớn không chỉ tạo nên một phần địa hình đặc trưng của vùng đất này. Trên sườn núi và quanh chân núi còn có Bạch Dinh, Bãi Dâu, Thích Ca Phật Đài, những trận địa pháo cũ cùng nhiều dấu tích của lịch sử, tôn giáo và đời sống đô thị hình thành qua nhiều thời kỳ.

Nằm sát biển ở phía nam Vũng Tàu, Núi Nhỏ không lớn về quy mô nhưng tập trung nhiều dấu ấn quen thuộc của vùng đất này. Từ Hải đăng Vũng Tàu, Tượng Chúa Kitô Vua đến những trận địa pháo cũ và Mũi Nghinh Phong dưới chân núi, mỗi địa danh kể một câu chuyện khác nhau về vị trí của ngọn núi giữa đô thị và biển.