Đang tải bài viết…
Đang tải bài viết…
Trên Quốc lộ 27, giữa vùng đất nối Liên Khương với cao nguyên phía bắc Lâm Đồng, Giáo xứ Thanh Bình thuộc Giáo hạt Đức Trọng, Giáo phận Đà Lạt mang trong mình câu chuyện của một thế hệ người Công giáo rời miền Bắc vào Nam sau năm 1954. Từ những gia đình phần lớn quê Điền Hộ, Nga Sơn, Thanh Hóa đến khai hoang giữa vùng đất còn nhiều rừng núi năm 1956, một xứ đạo mới đã hình thành. Gần bảy thập niên sau, Thanh Bình có gần 5.000 giáo dân và năm 2025 vừa hoàn thành ngôi thánh đường mới mang dáng dấp kiến trúc Tây Nguyên.
Lịch sử Thanh Bình gắn chặt với làn sóng di dân Công giáo từ miền Bắc vào Nam sau năm 1954. Nhiều gia đình quê Thanh Hóa trước tiên tập trung tại khu vực Hố Nai, Đồng Nai, rồi từ đây tiếp tục tìm kiếm vùng đất mới để định cư lâu dài.
Ngày 15/08/1956, cha Augustinô Phạm Văn Nguyện cùng các ông Trần Văn Minh, Vũ Đức Tuyên và Nguyễn Bá Kế từ trại định cư Thanh Hóa – Hố Nai lên Đức Trọng tìm đất. Họ lựa chọn một khu vực nằm khoảng cây số 15 trên tuyến đường nối Liên Khương với Phú Sơn và Buôn Ma Thuột, nay là Quốc lộ 27.
Đây vốn là vùng đất có các buôn của người K’Ho sinh sống. Rừng núi còn nhiều, dân cư thưa và điều kiện sinh hoạt rất khác quê nhà miền Bắc. Nhưng chính nơi ấy được những người đi tìm đất lựa chọn để bắt đầu một cuộc sống mới.
Ngày 20/11/1956, đoàn xe đầu tiên đưa khoảng 300 người từ trại Thanh Hóa – Hố Nai lên vùng đất mới. Đúng một tháng sau, một đoàn khác tiếp tục đưa thêm số người tương đương đến định cư.
Phần lớn những gia đình tiên phong có quê gốc Điền Hộ, Nga Sơn, Thanh Hóa. Ngoài ra còn có một số gia đình Công giáo từ những giáo phận miền Bắc khác như Phát Diệm.
Những tháng đầu tiên gần như mọi thứ đều tạm bợ. Người dân dựng bạt làm chỗ ở, còn nhà nguyện chỉ là một tấm bạt lớn được dựng gần cầu Cam Ly. Cùng đồng hành với cộng đoàn khi ấy có cha Augustinô Phạm Văn Nguyện, cha Nguyễn Minh Luân, thầy Trần Văn Cảnh và các nữ tu Mến Thánh Giá Thanh Hóa, sau này thuộc Hội dòng Mến Thánh Giá Đà Lạt.
Tên Thanh Bình được đặt cho vùng đất mới. Trong đó có cả dấu ấn quê hương Thanh Hóa mà những người di dân vừa rời xa và ước vọng về một cuộc sống bình yên trên cao nguyên.
Một chi tiết khá đặc biệt trong lịch sử Thanh Bình là ngay từ những ngày đầu, cộng đoàn đã được chia thành bảy giáo họ, dựa theo cách tổ chức các họ đạo đã có tại xứ Điền Hộ ngoài Bắc.
Những người di dân vì thế không chỉ mang theo tài sản và sức lao động. Họ mang theo cả cách tổ chức cộng đồng, sinh hoạt giáo xứ, phong tục và ký ức của quê cũ.
Giữa một vùng đất hoàn toàn mới, cấu trúc giáo họ trở thành sợi dây giúp những gia đình vừa rời quê nhanh chóng hình thành lại cộng đồng. Nhà ở có thể còn là những tấm bạt, đường sá chưa hình thành rõ ràng, nhưng đời sống giáo xứ đã được tổ chức ngay từ những tháng đầu tiên.
Đây cũng là một nét thường gặp tại nhiều xứ đạo di dân hình thành trên cao nguyên Lâm Đồng trong giai đoạn sau năm 1954.
Những năm đầu tại Thanh Bình là thời gian khai phá đất đai và xây dựng cuộc sống. Người dân từng bước biến những vùng đất hoang thành ruộng và nương rẫy.
Đến khoảng những năm 1970, kinh tế địa phương đã dần ổn định. Người dân trồng lúa, bắp, đậu, các loại hoa màu và chăn nuôi heo, bò. Đời sống của giáo xứ phát triển cùng với quá trình hình thành những khu dân cư mới trên vùng Đức Trọng.
Đến năm 1975, Thanh Bình đã có gần 3.000 giáo dân. Từ vài trăm người trên những chuyến xe đầu tiên năm 1956, chưa đầy hai thập niên sau nơi đây đã trở thành một xứ đạo khá đông dân.
Cùng với sự phát triển của cộng đoàn, nhu cầu có một ngôi thánh đường ổn định ngày càng lớn. Năm 1967, cha Laurensô Đỗ Ngọc Giá xây dựng Nhà thờ Thanh Bình.
Ngôi nhà thờ ấy trở thành trung tâm đời sống của giáo xứ trong hơn nửa thế kỷ. Nhiều thế hệ người Thanh Bình được rửa tội, học giáo lý, kết hôn và tham dự các sinh hoạt cộng đồng dưới mái nhà thờ này.
Nhưng khi giáo dân tăng từ vài trăm người lên hàng nghìn người, công trình năm 1967 dần không còn đáp ứng được nhu cầu. Đến những năm gần đây, Thanh Bình đã có hơn 4.000 giáo dân và việc xây dựng một ngôi thánh đường mới trở thành nhu cầu thực tế của cộng đoàn.
Sau năm 1975, Thanh Bình bước vào một giai đoạn mục vụ đáng chú ý. Ngày 11/05/1975, các cha Giuse Hoàng Văn Tiệm, Giuse Nguyễn Tiến Mỹ cùng hai thầy Phạm Ngọc Chính và Lê Quang Anh thuộc Dòng Don Bosco được Giám mục Giáo phận cử đến phục vụ giáo xứ.
Các tu sĩ Don Bosco tiếp tục đồng hành với Thanh Bình trong gần hai thập niên.
Đến năm 1994, do nhu cầu nhân sự của hội dòng, Don Bosco trao lại giáo xứ cho Giáo phận Đà Lạt. Tòa Giám mục sau đó cử cha Matthêu Đinh Viết Hoàng làm quản xứ và cha Micae Hà Diên Tố làm phó xứ.
Giai đoạn Don Bosco vì thế trở thành một phần riêng trong hành trình phát triển của Thanh Bình, nối giữa những thế hệ linh mục tiên khởi và giai đoạn giáo xứ trực tiếp trở lại sự coi sóc của Giáo phận.
Trong các tư liệu của Giáo phận Đà Lạt, Thanh Bình nhiều lần được nhắc đến như một cộng đoàn có truyền thống Công giáo khá sâu và đặc biệt có nhiều ơn gọi linh mục, tu sĩ.
Năm 2017, Giáo phận ghi nhận giáo xứ đã có 26 linh mục dòng và triều, cùng nhiều nam nữ tu sĩ phục vụ trong các hội dòng khác nhau. Đây là một con số đáng chú ý đối với một cộng đoàn chỉ mới được hình thành từ giữa thập niên 1950.
Điều này phần nào phản ánh cách đời sống đạo được những gia đình di dân gìn giữ và truyền lại. Từ những người từng dựng nhà nguyện bằng bạt giữa vùng đất mới, các thế hệ sau đã có nhiều người chọn con đường linh mục và đời sống thánh hiến.
Thanh Bình không chỉ có cộng đồng người Kinh gốc miền Bắc. Địa bàn giáo xứ còn nằm gần những làng của đồng bào dân tộc bản địa.
Do nhiều giáo dân thuộc ba giáo họ Đức Mẹ Vô Nhiễm, Đức Mẹ Phù Hộ và Thánh Đa Minh sống xa nhà thờ chính, giáo xứ từng bước chuẩn bị một cơ sở phụ để phục vụ khu vực này. Một gia đình đã hiến đất tại vị trí gần các làng dân tộc để xây dựng nhà thờ.
Ngày 17/01/2017, Đức cha Antôn Vũ Huy Chương, Giám mục Giáo phận Đà Lạt, chủ sự lễ khánh thành và cung hiến Nhà thờ Thánh Giuse thuộc Giáo xứ Thanh Bình.
Sự xuất hiện của ngôi nhà thờ thứ hai cho thấy địa bàn mục vụ Thanh Bình đã mở rộng khá xa so với cộng đoàn di dân ban đầu.
Ngày 23/03/2023, Đức cha Đaminh Nguyễn Văn Mạnh cử hành nghi thức làm phép viên đá và diện tích xây dựng Nhà thờ Thanh Bình mới.
Công trình được thực hiện trong gần 26 tháng. Ngày 15/05/2025, Đức cha Đaminh Nguyễn Văn Mạnh trở lại Thanh Bình chủ sự Thánh lễ khánh thành và cung hiến ngôi thánh đường mới với tước hiệu Đức Mẹ Hồn Xác Lên Trời.
Đây là một dấu mốc quan trọng: ngôi nhà thờ năm 1967 đã hoàn thành sứ mạng sau hơn nửa thế kỷ và nhường chỗ cho một công trình phù hợp hơn với cộng đoàn gần 5.000 giáo dân.
Nhà thờ Thanh Bình mới tạo dấu ấn bởi kiến trúc lấy cảm hứng từ nhà rông Tây Nguyên. Mặt tiền nổi bật với mái chữ A vươn cao, trong khi không gian kiến trúc sử dụng nhiều biểu tượng Kitô giáo.
Ở trung tâm mặt tiền là hình ảnh năm chiếc bánh và hai con cá, gợi lại trình thuật Tin Mừng về phép lạ hóa bánh ra nhiều. Hai bên có các số La Mã tượng trưng cho Mười Điều Răn; hệ thống kính màu thể hiện các nhân vật và câu chuyện Kinh Thánh.
Cách lựa chọn hình thức nhà rông tạo ra một liên hệ khá thú vị giữa lịch sử và hiện tại của Thanh Bình. Những gia đình tiên phong năm 1956 đến đây từ Thanh Hóa, nhưng vùng đất họ chọn lại là không gian sinh sống lâu đời của người K’Ho và các cộng đồng Tây Nguyên.
Gần bảy thập niên sau, chính hình ảnh kiến trúc bản địa lại trở thành một phần diện mạo của ngôi thánh đường mới.
Ngày nay, Thanh Bình thuộc Giáo hạt Đức Trọng, Giáo phận Đà Lạt. Giáo phận từng gọi đây là một trong những giáo xứ kỳ cựu của giáo hạt.
Cộng đoàn hiện có khoảng gần 5.000 giáo dân, được tổ chức thành 10 giáo họ. Con số này cho thấy một quá trình phát triển đáng kể nếu nhìn lại khoảng 600 người trên hai chuyến xe từ Hố Nai lên cao nguyên cuối năm 1956.
Bên cạnh Thanh Bình còn có Giáo xứ Kim Phát. Hai giáo xứ nằm kế cận nhau và chỉ cách nhau một cây cầu trên trục Quốc lộ 27. Kim Phát cũng hình thành từ làn sóng di dân Công giáo miền Bắc năm 1955, nhưng cộng đoàn ban đầu chủ yếu có nguồn gốc Kim Sơn – Phát Diệm. Vì vậy đây là hai giáo xứ khác nhau và cần tách riêng trong dữ liệu Mapstore.
Trong các tài liệu trước năm 2025, địa chỉ Nhà thờ Thanh Bình được ghi là 224A, xã Bình Thạnh, huyện Đức Trọng, tỉnh Lâm Đồng. Vì vậy Thanh Bình lâu nay vẫn được nhận diện như một giáo xứ của vùng Đức Trọng.
Sau đợt sắp xếp hành chính năm 2025, toàn bộ xã Bình Thạnh cũ của huyện Đức Trọng được hợp nhất với xã Tân Văn và thị trấn Đinh Văn để thành lập xã Đinh Văn Lâm Hà, tỉnh Lâm Đồng.
Điều này tạo nên một trường hợp khá thú vị trong dữ liệu địa danh: về tổ chức Giáo hội, Thanh Bình vẫn thuộc Giáo hạt Đức Trọng; nhưng về hành chính dân sự hiện nay, vị trí nhà thờ thuộc xã Đinh Văn Lâm Hà.
Với Mapstore, vì vậy nên giữ cả hai lớp thông tin. “Bình Thạnh – Đức Trọng” là địa chỉ lịch sử và từ khóa quen thuộc; “Đinh Văn Lâm Hà – Lâm Đồng” là địa chỉ hành chính hiện hành.
Tên Thanh Bình hôm nay không chỉ là tên một giáo xứ.
Phía sau nó là ký ức về những gia đình rời Thanh Hóa, qua Hố Nai rồi lại lên cao nguyên tìm đất. Ngày 20/11/1956, khoảng 300 người đến trước; một tháng sau thêm một đoàn tương đương. Họ dựng bạt làm nhà, dựng một tấm bạt lớn làm nhà nguyện rồi bắt đầu khai hoang.
Họ mang theo cách tổ chức bảy giáo họ từ Điền Hộ, mang theo nếp sống Công giáo của quê cũ và cùng nhau gây dựng một vùng dân cư mới. Năm 1967 có nhà thờ. Năm 1975 cộng đoàn đã gần 3.000 người. Đến năm 2025, Thanh Bình có gần 5.000 giáo dân và một ngôi thánh đường mới.
Nhưng có lẽ điều thú vị nhất nằm ở chính sự chuyển đổi ấy. Những người đầu tiên mang một phần Thanh Hóa lên cao nguyên, còn những thế hệ sau đã trở thành người của vùng đất Lâm Đồng. Và ngôi nhà thờ mới mang dáng dấp nhà rông Tây Nguyên như một dấu nối tự nhiên giữa hai miền đất trong lịch sử của cộng đoàn.
Tên: Giáo xứ Thanh Bình
Giáo hạt: Đức Trọng
Giáo phận: Đà Lạt
Nguồn gốc cộng đoàn: Giáo dân di cư, phần lớn từ Điền Hộ – Nga Sơn – Thanh Hóa
Mốc khởi đầu: Năm 1956
Ngày đoàn đầu tiên đến Thanh Bình: 20/11/1956
Linh mục gắn với buổi đầu: Augustinô Phạm Văn Nguyện
Bổn mạng: Đức Mẹ Hồn Xác Lên Trời
Ngày kính bổn mạng: 15/08
Nhà thờ cũ: Xây dựng năm 1967
Đặt viên đá Nhà thờ mới: 23/03/2023
Khánh thành và cung hiến Nhà thờ mới: 15/05/2025
Tước hiệu Nhà thờ: Đức Mẹ Hồn Xác Lên Trời
Đặc điểm kiến trúc Nhà thờ mới: Lấy cảm hứng từ nhà rông Tây Nguyên
Quy mô hiện nay: Gần 5.000 giáo dân, 10 giáo họ
Địa chỉ hiện nay: 224A, khu vực Bình Thạnh cũ, xã Đinh Văn Lâm Hà, tỉnh Lâm Đồng
Địa chỉ trước đây: 224A, xã Bình Thạnh, huyện Đức Trọng, tỉnh Lâm Đồng
Loại hình: Giáo xứ Công giáo

Công ty TNHH iWater
122/6 Đặng Văn Ngữ, Phường Phú Nhuận, Thành phố Hồ Chí Minh

Công ty TNHH Rượu 5 Châu (Topruou.com)
1368/79/1/3 Lê Văn Lương, Xã Nhà Bè, Thành phố Hồ Chí Minh

Vựa Cá Thạch Nguyệt – Cửa hàng cá tươi tại phường Thới An, TP.HCM
193 Tô Ngọc Vân, Phường Thới An, Thành phố Hồ Chí Minh

MazLaw – Tổ chức đại diện sở hữu trí tuệ tại Hà Nội
430 Đê La Thành, Phường Ô Chợ Dừa, Thành phố Hà Nội

Văn phòng Luật sư Đặng Đình Ngọc – 27 Lê Văn Lương, Hà Nội
27 Lê Văn Lương, Phường Thanh Xuân, Thành phố Hà Nội

Bến Đình – nhịp sống làng chài giữa lòng Vũng Tàu
Phía sau hình ảnh những bãi biển và con đường du lịch, Vũng Tàu vẫn còn những nơi mà nhịp sống mỗi ngày bắt đầu từ ghe thuyền, lưới cá và những mẻ hải sản vừa đưa vào bờ. Bến Đình là một không gian như thế, nơi nghề biển không nằm trong ký ức mà vẫn hiện diện trong đời sống của nhiều gia đình giữa một đô thị đang đổi thay.

Mũi Nghinh Phong – nơi Núi Nhỏ vươn mình ra biển
Ở phía nam Núi Nhỏ, địa hình Vũng Tàu hạ dần rồi vươn ra biển thành Mũi Nghinh Phong. Một bên là Bãi Sau, phía ngoài là Hòn Bà, phía sau là sườn núi với Tượng Chúa Kitô Vua. Không cần một công trình lớn để tạo nên dấu ấn, chính vị trí nằm giữa núi và biển đã làm nên nét riêng của mũi đất này.

Bãi Dâu – khoảng biển dưới chân Núi Lớn
Nằm nép dưới sườn phía tây Núi Lớn, Bãi Dâu mang một dáng vẻ khác với những bãi biển quen thuộc của Vũng Tàu. Bờ biển không kéo dài rộng mở như Bãi Sau, cũng không nằm giữa trung tâm đô thị như Bãi Trước. Ở đây, núi tiến gần mặt nước, những mỏm đá chia nhỏ đường bờ và trên sườn cao là những công trình tôn giáo đã dần trở thành một phần cảnh quan của vùng biển.

Vũng Tàu – vùng đô thị biển giữa hai ngọn núi và những lớp ký ức
Giữa biển và vùng cửa vịnh phía Nam, Vũng Tàu hình thành trên một không gian mà núi, bờ biển và những tuyến nước nằm rất gần nhau. Núi Lớn, Núi Nhỏ, Bãi Trước, Bãi Sau, những làng biển cũ, ngọn hải đăng và các dấu tích tín ngưỡng cùng tạo nên một vùng đất có nhiều lớp hơn hình ảnh quen thuộc của một nơi nghỉ biển.

Vịnh Gành Rái – vùng nước nối Vũng Tàu với cửa ngõ hàng hải phía Nam
Nằm giữa Vũng Tàu và Cần Giờ, vịnh Gành Rái không hiện diện trong hình dung về du lịch biển rõ như Bãi Trước hay Bãi Sau. Nhưng nhìn từ lịch sử và địa lý hàng hải, vùng nước này lại giúp giải thích một phần quan trọng về vị trí của Vũng Tàu: nơi biển mở vào hệ thống sông, cảng và những tuyến giao thông thủy dẫn sâu vào vùng Đông Nam Bộ.

Aultmore Distillery – Nhà chưng cất whisky giữa vùng Foggie Moss, Speyside, Scotland
Aultmore Distillery là nhà chưng cất Scotch whisky nằm gần thị trấn Keith, thuộc vùng Speyside của Scotland. Được Alexander Edward thành lập và bắt đầu sản xuất năm 1897, Aultmore đã tồn tại hơn 125 năm giữa một khu vực từ lâu gắn với nghề chưng cất whisky.

The Glenrothes Distillery – Nhà chưng cất Speyside từ năm 1879 tại Rothes, Scotland
The Glenrothes Distillery là nhà chưng cất Single Malt Scotch Whisky nằm tại Rothes, Moray, Scotland, ngay trung tâm vùng whisky Speyside. Được thành lập năm 1879, nhà chưng cất trải qua gần 150 năm phát triển và ngày nay là một trong những tên tuổi lâu đời gắn với thị trấn Rothes.

Stirling Distillery – Khi whisky trở lại dưới chân lâu đài Stirling sau hơn 170 năm
Ngay dưới chân Stirling Castle, giữa khu phố cổ mang đậm dấu ấn lịch sử Scotland, một nhà chưng cất nhỏ đang viết tiếp câu chuyện từng bị gián đoạn hơn một thế kỷ. Stirling Distillery không có quy mô lớn, nhưng vị trí, lịch sử và hành trình đưa whisky trở lại thành phố Stirling khiến nơi đây trở thành một điểm đáng chú ý trên bản đồ whisky Scotland.

Kininvie Distillery – Nhà chưng cất Speyside kín tiếng của William Grant & Sons
Kininvie Distillery là nhà chưng cất Single Malt Scotch Whisky nằm tại Dufftown, Moray, Scotland, thuộc vùng whisky Speyside. Được William Grant & Sons xây dựng năm 1990, Kininvie có vị trí đặc biệt khi nằm ngay trong khu vực của The Balvenie Distillery và gần Glenfiddich – hai nhà chưng cất nổi tiếng cùng thuộc tập đoàn gia đình William Grant & Sons.

Auchentoshan Distillery – Nhà chưng cất whisky Lowland hơn 200 năm bên Glasgow, Scotland
Auchentoshan Distillery là nhà chưng cất Scotch whisky nằm tại Clydebank, ở phía tây bắc Glasgow, Scotland. Nhà chưng cất có lịch sử chính thức từ năm 1823 và ngày nay được biết đến đặc biệt với phương pháp chưng cất ba lần – Triple Distillation, tạo nên phong cách nhẹ, tươi và mềm mại đặc trưng của Auchentoshan Single Malt Scotch Whisky.

Phía sau hình ảnh những bãi biển và con đường du lịch, Vũng Tàu vẫn còn những nơi mà nhịp sống mỗi ngày bắt đầu từ ghe thuyền, lưới cá và những mẻ hải sản vừa đưa vào bờ. Bến Đình là một không gian như thế, nơi nghề biển không nằm trong ký ức mà vẫn hiện diện trong đời sống của nhiều gia đình giữa một đô thị đang đổi thay.

Ở phía nam Núi Nhỏ, địa hình Vũng Tàu hạ dần rồi vươn ra biển thành Mũi Nghinh Phong. Một bên là Bãi Sau, phía ngoài là Hòn Bà, phía sau là sườn núi với Tượng Chúa Kitô Vua. Không cần một công trình lớn để tạo nên dấu ấn, chính vị trí nằm giữa núi và biển đã làm nên nét riêng của mũi đất này.

Nằm nép dưới sườn phía tây Núi Lớn, Bãi Dâu mang một dáng vẻ khác với những bãi biển quen thuộc của Vũng Tàu. Bờ biển không kéo dài rộng mở như Bãi Sau, cũng không nằm giữa trung tâm đô thị như Bãi Trước. Ở đây, núi tiến gần mặt nước, những mỏm đá chia nhỏ đường bờ và trên sườn cao là những công trình tôn giáo đã dần trở thành một phần cảnh quan của vùng biển.

Giữa biển và vùng cửa vịnh phía Nam, Vũng Tàu hình thành trên một không gian mà núi, bờ biển và những tuyến nước nằm rất gần nhau. Núi Lớn, Núi Nhỏ, Bãi Trước, Bãi Sau, những làng biển cũ, ngọn hải đăng và các dấu tích tín ngưỡng cùng tạo nên một vùng đất có nhiều lớp hơn hình ảnh quen thuộc của một nơi nghỉ biển.

Nằm giữa Vũng Tàu và Cần Giờ, vịnh Gành Rái không hiện diện trong hình dung về du lịch biển rõ như Bãi Trước hay Bãi Sau. Nhưng nhìn từ lịch sử và địa lý hàng hải, vùng nước này lại giúp giải thích một phần quan trọng về vị trí của Vũng Tàu: nơi biển mở vào hệ thống sông, cảng và những tuyến giao thông thủy dẫn sâu vào vùng Đông Nam Bộ.

Trải dài từ chân Núi Nhỏ về phía đông bắc, Bãi Sau là dải bờ biển rộng và quen thuộc của Vũng Tàu. Nếu Bãi Trước gắn nhiều hơn với phần đô thị hình thành bên một bờ vịnh, Bãi Sau mở thẳng ra biển, nơi bãi cát, đường Thùy Vân và những lớp dịch vụ nghỉ dưỡng đã phát triển song song qua nhiều thời kỳ.

Nằm giữa Núi Lớn và Núi Nhỏ, Bãi Trước là nơi biển tiến sâu vào vùng đô thị và tạo thành một vòng cung tự nhiên trước trung tâm Vũng Tàu. Qua thời gian, bờ vịnh không chỉ giữ vai trò cảnh quan mà còn trở thành nơi thành phố hướng mặt ra biển, với công viên, đường phố, những công trình lâu đời và nhịp sống đô thị nối tiếp nhau dọc theo mép nước.

Nằm sát biển và trải rộng ở phía bắc khu vực trung tâm Vũng Tàu, Núi Lớn không chỉ tạo nên một phần địa hình đặc trưng của vùng đất này. Trên sườn núi và quanh chân núi còn có Bạch Dinh, Bãi Dâu, Thích Ca Phật Đài, những trận địa pháo cũ cùng nhiều dấu tích của lịch sử, tôn giáo và đời sống đô thị hình thành qua nhiều thời kỳ.

Nằm sát biển ở phía nam Vũng Tàu, Núi Nhỏ không lớn về quy mô nhưng tập trung nhiều dấu ấn quen thuộc của vùng đất này. Từ Hải đăng Vũng Tàu, Tượng Chúa Kitô Vua đến những trận địa pháo cũ và Mũi Nghinh Phong dưới chân núi, mỗi địa danh kể một câu chuyện khác nhau về vị trí của ngọn núi giữa đô thị và biển.