Đang tải bài viết…
Đang tải bài viết…
Bên Quốc lộ 20, trên vùng đất B’Lao – Bảo Lộc, Giáo xứ Thánh Tâm – Lộc Tiến thuộc Giáo hạt Bảo Lộc, Giáo phận Đà Lạt là một trong những xứ đạo hình thành từ cuộc di cư Công giáo miền Bắc sau năm 1954. Những gia đình đầu tiên đến đây giữa vùng đất còn hoang vu, phát rừng, dựng nhà và gây dựng cuộc sống mới. Từ cộng đoàn ban đầu mang tên Tân Hiệp, Giáo xứ Thánh Tâm chính thức được thành lập ngày 21/02/1956 và dần trở thành một cộng đoàn Công giáo lớn của vùng Bảo Lộc.
Câu chuyện Thánh Tâm bắt đầu từ năm 1955. Sau cuộc di cư từ miền Bắc vào Nam, một số gia đình Công giáo được máy bay đưa đến B’Lao và tạm cư tại khu vực sân banh gần Nhà thờ B’Lao. Phần lớn họ có nguồn gốc từ Bắc Ninh và Bùi Chu, trong đó có nhiều gia đình thuộc làng Xuân Hòa.
Cha Phaolô Nguyễn Văn Đậu, khi ấy phụ trách B’Lao, nhận thấy những gia đình di cư cần một vùng đất để ổn định lâu dài nên liên hệ với chính quyền xin khu đất còn hoang vu ở khoảng cây số 187 trên tuyến đường Sài Gòn – Đà Lạt. Khi được chấp thuận, ngài đưa người dân đến đây phát rừng, chia đất, dựng nhà và bắt đầu một cuộc sống mới.
Đó là buổi đầu của cộng đoàn sau này trở thành Giáo xứ Thánh Tâm – Lộc Tiến.
Trong những ngày đầu khai hoang, cộng đoàn mang tên Tân Hiệp. Tên gọi thể hiện mong muốn về một sự hiệp nhất mới giữa những người Công giáo đến từ nhiều vùng, đặc biệt là hai cộng đồng có nguồn gốc Bắc Ninh và Bùi Chu.
Nhưng cha Phaolô Nguyễn Văn Đậu muốn cộng đoàn có một tên gọi mang ý nghĩa sâu hơn về đời sống đức tin. Ngài đề nghị lấy Thánh Tâm Chúa Giêsu làm tên giáo xứ, với ý nghĩa mọi người cùng quy tụ trong tình yêu của Trái Tim Chúa.
Tên Tân Hiệp dần nhường chỗ cho Thánh Tâm, còn Lộc Tiến trở thành địa danh giúp nhận diện giáo xứ giữa nhiều cộng đoàn cùng mang tước hiệu Thánh Tâm.
Nguồn hiện hành của Giáo phận Đà Lạt xác định 21/02/1956 là ngày thành lập Giáo xứ Thánh Tâm.
Mốc này cần được phân biệt với năm 1955, là thời điểm cha Phaolô Nguyễn Văn Đậu bắt đầu quy tụ và đưa các gia đình di cư đến vùng đất mới. Vì vậy, khi xây dựng dữ liệu lịch sử có thể xác định: 1955 là mốc hình thành cộng đoàn, 21/02/1956 là ngày thành lập giáo xứ.
Thánh Tâm nhận Thánh Tâm Chúa Giêsu làm bổn mạng. Từ tên gọi ấy, một cộng đoàn của những người vừa rời quê miền Bắc bắt đầu gây dựng căn tính mới trên cao nguyên B’Lao.
Những năm đầu không dễ dàng. Người dân phải phát rừng, dựng nhà và khai phá đất đai trong điều kiện của một vùng cao nguyên còn thưa dân. Nhưng khí hậu và thổ nhưỡng B’Lao cũng dần mở ra những sinh kế mới, đặc biệt với các loại cây công nghiệp.
Cùng với quá trình định cư, đường sá và khu dân cư dần hình thành. B’Lao phát triển thành thị xã rồi thành phố Bảo Lộc, còn khu vực của giáo xứ trở thành phường Lộc Tiến.
Từ một điểm định cư bên Quốc lộ 20, Thánh Tâm dần nằm trong không gian đô thị đang mở rộng của Bảo Lộc.
Khi cộng đoàn Thánh Tâm được hình thành, vùng B’Lao vẫn thuộc Giáo phận Sài Gòn. Đây là một chi tiết cần giữ trong lịch sử giáo xứ vì Giáo phận Đà Lạt khi ấy chưa được thành lập.
Ngày 24/11/1960, Tòa Thánh thiết lập Giáo phận Đà Lạt. Từ đó, Thánh Tâm trở thành một giáo xứ thuộc Giáo phận Đà Lạt và ngày nay nằm trong Giáo hạt Bảo Lộc.
Sự chuyển đổi này đặt Thánh Tâm trong một giai đoạn quan trọng của lịch sử Công giáo cao nguyên, khi mạng lưới các giáo xứ phát triển cùng với những cộng đồng di dân và sự hình thành các vùng dân cư mới.
Trong quá trình phát triển của Thánh Tâm, bên cạnh các linh mục còn có sự hiện diện lâu dài của các nữ tu Dòng Đaminh Tam Hiệp.
Các nữ tu đồng hành với cộng đoàn trong nhiều hoạt động giáo dục, mục vụ và đời sống xã hội. Đây cũng là một nét khá quen thuộc của các xứ đạo di cư: bên cạnh nhà thờ thường hình thành những cơ sở giáo dục, cộng đoàn tu trì và các hoạt động phục vụ dân cư.
Sự hiện diện ấy góp phần giúp một cộng đồng ban đầu chủ yếu gồm những gia đình mới đến lập nghiệp nhanh chóng xây dựng được đời sống giáo xứ tương đối ổn định.
Cùng với sự gia tăng giáo dân, cơ sở vật chất của Thánh Tâm được xây dựng và thay đổi qua nhiều giai đoạn. Ngôi thánh đường hiện nay trở thành dấu mốc quan trọng của giáo xứ khi được cung hiến năm 2003.
Năm 2016, cộng đoàn tổ chức kỷ niệm 60 năm thành lập Giáo xứ Thánh Tâm (1956–2016) đồng thời kỷ niệm 13 năm cung hiến nhà thờ (2003–2016).
Hai mốc này cho thấy cần phân biệt rõ lịch sử cộng đoàn với lịch sử công trình: giáo xứ đã hình thành từ giữa thập niên 1950, còn ngôi thánh đường hiện nay thuộc một giai đoạn phát triển sau này.
Từ những gia đình di cư ban đầu, Thánh Tâm đã phát triển thành một trong những cộng đoàn khá đông của Giáo hạt Bảo Lộc. Số liệu Giáo phận công bố năm 2024 ghi nhận khoảng 950 gia đình với 5.550 giáo dân.
Cộng đoàn được tổ chức thành năm giáo họ mang tên Phêrô, Đaminh, Antôn, Gioan và Giuse, cùng nhiều hội đoàn dành cho các giới và các hoạt động mục vụ khác nhau.
Quy mô ấy cho thấy sự thay đổi rất lớn nếu nhìn lại thời điểm năm 1955, khi những gia đình đầu tiên còn tạm cư ở sân banh B’Lao và chưa biết vùng đất nào sẽ trở thành quê hương mới của mình.
Địa bàn mục vụ của Thánh Tâm không chỉ tập trung quanh nhà thờ chính. Một bộ phận giáo dân sống xa trung tâm giáo xứ, trong đó có Giáo họ Thánh Antôn.
Ngày 27/06/2024, Giáo phận Đà Lạt tổ chức khánh thành và làm phép Nhà nguyện Giáo họ Thánh Antôn thuộc Giáo xứ Thánh Tâm – Lộc Tiến.
Việc hình thành nhà nguyện riêng cho giáo họ cho thấy cộng đoàn vẫn tiếp tục phát triển và thích ứng với sự mở rộng dân cư của vùng Bảo Lộc. Một giáo xứ hình thành từ cuộc di dân gần bảy thập niên trước vẫn đang tiếp tục mở rộng không gian mục vụ trong hiện tại.
Một phần đặc biệt trong lịch sử Thánh Tâm là nghĩa trang giáo xứ. Khu đất này được hình thành từ khoảng cuối năm 1954, gần như đồng thời với giai đoạn những gia đình đầu tiên đến vùng B’Lao.
Ngày nay, Nghĩa trang Giáo xứ Thánh Tâm có khoảng 2.000 phần mộ và được quy hoạch, chỉnh trang khá bài bản. Đây không đơn thuần là nơi an táng mà còn lưu giữ nhiều lớp ký ức của cộng đồng.
Những người nằm lại nơi đây có nhiều người thuộc thế hệ đầu tiên rời miền Bắc, đến B’Lao phát rừng, khai đất và xây dựng xứ đạo. Nếu nhà thờ kể câu chuyện đời sống đức tin hiện tại thì nghĩa trang lại lưu giữ dấu vết của những thế hệ đã góp phần tạo nên Thánh Tâm – Lộc Tiến.
Trong dữ liệu Mapstore cần đặc biệt phân biệt Giáo xứ Thánh Tâm – Lộc Tiến với Giáo xứ Thánh Tâm – Lộc Phát.
Cả hai đều thuộc khu vực Bảo Lộc và cùng mang tên Thánh Tâm, nhưng là hai giáo xứ hoàn toàn khác nhau. Thánh Tâm – Lộc Tiến được thành lập ngày 21/02/1956 và nhận Thánh Tâm Chúa Giêsu làm bổn mạng; trong khi Thánh Tâm – Lộc Phát là một cộng đoàn khác, có lịch sử riêng và nhận Trái Tim Vẹn Sạch Đức Mẹ làm bổn mạng.
Vì vậy tên “Lộc Tiến” không chỉ mang ý nghĩa địa danh mà còn là thành phần quan trọng để nhận diện chính xác giáo xứ.
Trong nhiều thập niên, địa chỉ Giáo xứ Thánh Tâm được ghi trên đường Nguyễn Tri Phương, phường Lộc Tiến, thành phố Bảo Lộc, tỉnh Lâm Đồng. Đây vẫn là lớp địa danh quen thuộc với giáo dân và có giá trị lớn trong tìm kiếm.
Sau đợt sắp xếp đơn vị hành chính năm 2025, toàn bộ phường Lộc Tiến cùng xã Lộc Châu và xã Đại Lào được hợp nhất thành Phường 3 Bảo Lộc, tỉnh Lâm Đồng.
Như vậy, về hành chính hiện hành, Nhà thờ Thánh Tâm nằm trong Phường 3 Bảo Lộc. Nhưng đối với tên giáo xứ, nên tiếp tục giữ Thánh Tâm – Lộc Tiến, vừa đúng cách Giáo phận sử dụng, vừa lưu giữ tên vùng đất đã gắn với cộng đoàn trong nhiều thập niên.
Nhìn lại lịch sử Thánh Tâm, điều đáng nhớ không chỉ là ngày thành lập hay quy mô của một giáo xứ hơn 5.000 người.
Năm 1955, những gia đình Công giáo từ Bắc Ninh, Bùi Chu và nhiều vùng miền Bắc được đưa đến B’Lao. Họ từng tạm trú bên sân banh, rồi được dẫn đến cây số 187, nơi vẫn còn là vùng đất hoang vu. Tại đây họ phát rừng, chia đất, dựng nhà và gọi cộng đoàn mới của mình là Tân Hiệp.
Rồi Tân Hiệp trở thành Thánh Tâm. B’Lao trở thành Bảo Lộc. Vùng đất hoang năm nào trở thành một phần đô thị và những gia đình di cư ngày trước đã có thế hệ con cháu sinh ra, lớn lên ngay trên cao nguyên.
Tên Lộc Tiến hôm nay không còn tồn tại như một phường hành chính độc lập, nhưng vẫn còn trong tên Giáo xứ Thánh Tâm – Lộc Tiến. Đó cũng là cách một địa danh được giữ lại trong ký ức cộng đồng, ngay cả khi bản đồ hành chính đã thay đổi.
Tên: Giáo xứ Thánh Tâm – Lộc Tiến
Tên ban đầu: Tân Hiệp
Giáo hạt: Bảo Lộc
Giáo phận: Đà Lạt
Khởi đầu cộng đoàn: Năm 1955
Thành lập giáo xứ: 21/02/1956
Người sáng lập: Linh mục Phaolô Nguyễn Văn Đậu
Nguồn gốc cộng đoàn: Giáo dân di cư miền Bắc, chủ yếu từ Bắc Ninh và Bùi Chu
Bổn mạng: Thánh Tâm Chúa Giêsu
Cung hiến nhà thờ hiện nay: Năm 2003
Quy mô tham khảo: Khoảng 950 gia đình, 5.550 giáo dân
Số giáo họ: 5
Địa chỉ hiện nay: Đường Nguyễn Tri Phương, Phường 3 Bảo Lộc, tỉnh Lâm Đồng
Địa chỉ trước đây: Đường Nguyễn Tri Phương, phường Lộc Tiến, thành phố Bảo Lộc, tỉnh Lâm Đồng
Loại hình: Giáo xứ Công giáo

Công ty TNHH iWater
122/6 Đặng Văn Ngữ, Phường Phú Nhuận, Thành phố Hồ Chí Minh

Công ty TNHH Rượu 5 Châu (Topruou.com)
1368/79/1/3 Lê Văn Lương, Xã Nhà Bè, Thành phố Hồ Chí Minh

Vựa Cá Thạch Nguyệt – Cửa hàng cá tươi tại phường Thới An, TP.HCM
193 Tô Ngọc Vân, Phường Thới An, Thành phố Hồ Chí Minh

MazLaw – Tổ chức đại diện sở hữu trí tuệ tại Hà Nội
430 Đê La Thành, Phường Ô Chợ Dừa, Thành phố Hà Nội

Văn phòng Luật sư Đặng Đình Ngọc – 27 Lê Văn Lương, Hà Nội
27 Lê Văn Lương, Phường Thanh Xuân, Thành phố Hà Nội

Bến Đình – nhịp sống làng chài giữa lòng Vũng Tàu
Phía sau hình ảnh những bãi biển và con đường du lịch, Vũng Tàu vẫn còn những nơi mà nhịp sống mỗi ngày bắt đầu từ ghe thuyền, lưới cá và những mẻ hải sản vừa đưa vào bờ. Bến Đình là một không gian như thế, nơi nghề biển không nằm trong ký ức mà vẫn hiện diện trong đời sống của nhiều gia đình giữa một đô thị đang đổi thay.

Mũi Nghinh Phong – nơi Núi Nhỏ vươn mình ra biển
Ở phía nam Núi Nhỏ, địa hình Vũng Tàu hạ dần rồi vươn ra biển thành Mũi Nghinh Phong. Một bên là Bãi Sau, phía ngoài là Hòn Bà, phía sau là sườn núi với Tượng Chúa Kitô Vua. Không cần một công trình lớn để tạo nên dấu ấn, chính vị trí nằm giữa núi và biển đã làm nên nét riêng của mũi đất này.

Bãi Dâu – khoảng biển dưới chân Núi Lớn
Nằm nép dưới sườn phía tây Núi Lớn, Bãi Dâu mang một dáng vẻ khác với những bãi biển quen thuộc của Vũng Tàu. Bờ biển không kéo dài rộng mở như Bãi Sau, cũng không nằm giữa trung tâm đô thị như Bãi Trước. Ở đây, núi tiến gần mặt nước, những mỏm đá chia nhỏ đường bờ và trên sườn cao là những công trình tôn giáo đã dần trở thành một phần cảnh quan của vùng biển.

Vũng Tàu – vùng đô thị biển giữa hai ngọn núi và những lớp ký ức
Giữa biển và vùng cửa vịnh phía Nam, Vũng Tàu hình thành trên một không gian mà núi, bờ biển và những tuyến nước nằm rất gần nhau. Núi Lớn, Núi Nhỏ, Bãi Trước, Bãi Sau, những làng biển cũ, ngọn hải đăng và các dấu tích tín ngưỡng cùng tạo nên một vùng đất có nhiều lớp hơn hình ảnh quen thuộc của một nơi nghỉ biển.

Vịnh Gành Rái – vùng nước nối Vũng Tàu với cửa ngõ hàng hải phía Nam
Nằm giữa Vũng Tàu và Cần Giờ, vịnh Gành Rái không hiện diện trong hình dung về du lịch biển rõ như Bãi Trước hay Bãi Sau. Nhưng nhìn từ lịch sử và địa lý hàng hải, vùng nước này lại giúp giải thích một phần quan trọng về vị trí của Vũng Tàu: nơi biển mở vào hệ thống sông, cảng và những tuyến giao thông thủy dẫn sâu vào vùng Đông Nam Bộ.

Aultmore Distillery – Nhà chưng cất whisky giữa vùng Foggie Moss, Speyside, Scotland
Aultmore Distillery là nhà chưng cất Scotch whisky nằm gần thị trấn Keith, thuộc vùng Speyside của Scotland. Được Alexander Edward thành lập và bắt đầu sản xuất năm 1897, Aultmore đã tồn tại hơn 125 năm giữa một khu vực từ lâu gắn với nghề chưng cất whisky.

The Glenrothes Distillery – Nhà chưng cất Speyside từ năm 1879 tại Rothes, Scotland
The Glenrothes Distillery là nhà chưng cất Single Malt Scotch Whisky nằm tại Rothes, Moray, Scotland, ngay trung tâm vùng whisky Speyside. Được thành lập năm 1879, nhà chưng cất trải qua gần 150 năm phát triển và ngày nay là một trong những tên tuổi lâu đời gắn với thị trấn Rothes.

Stirling Distillery – Khi whisky trở lại dưới chân lâu đài Stirling sau hơn 170 năm
Ngay dưới chân Stirling Castle, giữa khu phố cổ mang đậm dấu ấn lịch sử Scotland, một nhà chưng cất nhỏ đang viết tiếp câu chuyện từng bị gián đoạn hơn một thế kỷ. Stirling Distillery không có quy mô lớn, nhưng vị trí, lịch sử và hành trình đưa whisky trở lại thành phố Stirling khiến nơi đây trở thành một điểm đáng chú ý trên bản đồ whisky Scotland.

Kininvie Distillery – Nhà chưng cất Speyside kín tiếng của William Grant & Sons
Kininvie Distillery là nhà chưng cất Single Malt Scotch Whisky nằm tại Dufftown, Moray, Scotland, thuộc vùng whisky Speyside. Được William Grant & Sons xây dựng năm 1990, Kininvie có vị trí đặc biệt khi nằm ngay trong khu vực của The Balvenie Distillery và gần Glenfiddich – hai nhà chưng cất nổi tiếng cùng thuộc tập đoàn gia đình William Grant & Sons.

Auchentoshan Distillery – Nhà chưng cất whisky Lowland hơn 200 năm bên Glasgow, Scotland
Auchentoshan Distillery là nhà chưng cất Scotch whisky nằm tại Clydebank, ở phía tây bắc Glasgow, Scotland. Nhà chưng cất có lịch sử chính thức từ năm 1823 và ngày nay được biết đến đặc biệt với phương pháp chưng cất ba lần – Triple Distillation, tạo nên phong cách nhẹ, tươi và mềm mại đặc trưng của Auchentoshan Single Malt Scotch Whisky.

Phía sau hình ảnh những bãi biển và con đường du lịch, Vũng Tàu vẫn còn những nơi mà nhịp sống mỗi ngày bắt đầu từ ghe thuyền, lưới cá và những mẻ hải sản vừa đưa vào bờ. Bến Đình là một không gian như thế, nơi nghề biển không nằm trong ký ức mà vẫn hiện diện trong đời sống của nhiều gia đình giữa một đô thị đang đổi thay.

Ở phía nam Núi Nhỏ, địa hình Vũng Tàu hạ dần rồi vươn ra biển thành Mũi Nghinh Phong. Một bên là Bãi Sau, phía ngoài là Hòn Bà, phía sau là sườn núi với Tượng Chúa Kitô Vua. Không cần một công trình lớn để tạo nên dấu ấn, chính vị trí nằm giữa núi và biển đã làm nên nét riêng của mũi đất này.

Nằm nép dưới sườn phía tây Núi Lớn, Bãi Dâu mang một dáng vẻ khác với những bãi biển quen thuộc của Vũng Tàu. Bờ biển không kéo dài rộng mở như Bãi Sau, cũng không nằm giữa trung tâm đô thị như Bãi Trước. Ở đây, núi tiến gần mặt nước, những mỏm đá chia nhỏ đường bờ và trên sườn cao là những công trình tôn giáo đã dần trở thành một phần cảnh quan của vùng biển.

Giữa biển và vùng cửa vịnh phía Nam, Vũng Tàu hình thành trên một không gian mà núi, bờ biển và những tuyến nước nằm rất gần nhau. Núi Lớn, Núi Nhỏ, Bãi Trước, Bãi Sau, những làng biển cũ, ngọn hải đăng và các dấu tích tín ngưỡng cùng tạo nên một vùng đất có nhiều lớp hơn hình ảnh quen thuộc của một nơi nghỉ biển.

Nằm giữa Vũng Tàu và Cần Giờ, vịnh Gành Rái không hiện diện trong hình dung về du lịch biển rõ như Bãi Trước hay Bãi Sau. Nhưng nhìn từ lịch sử và địa lý hàng hải, vùng nước này lại giúp giải thích một phần quan trọng về vị trí của Vũng Tàu: nơi biển mở vào hệ thống sông, cảng và những tuyến giao thông thủy dẫn sâu vào vùng Đông Nam Bộ.

Trải dài từ chân Núi Nhỏ về phía đông bắc, Bãi Sau là dải bờ biển rộng và quen thuộc của Vũng Tàu. Nếu Bãi Trước gắn nhiều hơn với phần đô thị hình thành bên một bờ vịnh, Bãi Sau mở thẳng ra biển, nơi bãi cát, đường Thùy Vân và những lớp dịch vụ nghỉ dưỡng đã phát triển song song qua nhiều thời kỳ.

Nằm giữa Núi Lớn và Núi Nhỏ, Bãi Trước là nơi biển tiến sâu vào vùng đô thị và tạo thành một vòng cung tự nhiên trước trung tâm Vũng Tàu. Qua thời gian, bờ vịnh không chỉ giữ vai trò cảnh quan mà còn trở thành nơi thành phố hướng mặt ra biển, với công viên, đường phố, những công trình lâu đời và nhịp sống đô thị nối tiếp nhau dọc theo mép nước.

Nằm sát biển và trải rộng ở phía bắc khu vực trung tâm Vũng Tàu, Núi Lớn không chỉ tạo nên một phần địa hình đặc trưng của vùng đất này. Trên sườn núi và quanh chân núi còn có Bạch Dinh, Bãi Dâu, Thích Ca Phật Đài, những trận địa pháo cũ cùng nhiều dấu tích của lịch sử, tôn giáo và đời sống đô thị hình thành qua nhiều thời kỳ.

Nằm sát biển ở phía nam Vũng Tàu, Núi Nhỏ không lớn về quy mô nhưng tập trung nhiều dấu ấn quen thuộc của vùng đất này. Từ Hải đăng Vũng Tàu, Tượng Chúa Kitô Vua đến những trận địa pháo cũ và Mũi Nghinh Phong dưới chân núi, mỗi địa danh kể một câu chuyện khác nhau về vị trí của ngọn núi giữa đô thị và biển.