Đang tải bài viết…
Đang tải bài viết…
Ẩn trong dãy Minh Đạm là một hệ thống hang đá, khe núi và rừng cây từng trở thành nơi hoạt động của lực lượng cách mạng trong suốt những năm chiến tranh. Nếu Núi Minh Đạm kể câu chuyện về địa hình và những lớp tên gọi của vùng núi Long Hải, thì Căn cứ Minh Đạm cho thấy con người đã dựa vào chính địa hình ấy để tồn tại, tổ chức lực lượng và chiến đấu. Ngày nay, nơi đây là di tích lịch sử cấp quốc gia, nhưng những hang đá còn lại vẫn giúp hình dung khá rõ vì sao một dãy núi sát biển lại có thể trở thành căn cứ trong nhiều thập niên.
Căn cứ Minh Đạm nằm trong dãy Minh Đạm, thuộc vùng Long Hải ngày nay. Theo danh mục di tích hiện hành của Thành phố Hồ Chí Minh, Khu căn cứ Minh Đạm là di tích cấp quốc gia, được xếp hạng theo Quyết định số 57VH/QĐ ngày 18/01/1993.
Sau những thay đổi về địa giới hành chính, cách ghi địa chỉ của Minh Đạm trong các tài liệu có thể khác nhau. Trước đây, di tích thường được giới thiệu thuộc huyện Đất Đỏ hoặc huyện Long Đất, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu; danh mục di tích sau sắp xếp tiếp tục ghi nhận địa danh Núi Minh Đạm trong hệ thống quản lý mới. Vì vậy, khi đọc các tư liệu cũ về căn cứ, những tên Bà Rịa – Vũng Tàu, Đất Đỏ, Long Đất hay Long Hải cần được hiểu trong bối cảnh hành chính của từng thời kỳ.
Điều quyết định sự hình thành căn cứ lại không nằm ở ranh giới hành chính mà ở chính địa hình.
Dãy núi có nhiều khối đá lớn, hang tự nhiên, rừng cây và những khoảng địa hình khó tiếp cận. Nguồn nước ngọt cùng vị trí nằm gần vùng dân cư và bờ biển tạo điều kiện để lực lượng hoạt động trong núi nhưng vẫn duy trì liên hệ với khu vực xung quanh.
Những đặc điểm tự nhiên ấy biến Minh Đạm từ một dãy núi thành nơi có khả năng che giấu và bảo vệ con người trong điều kiện chiến tranh.
Căn cứ Minh Đạm không phải một công trình quân sự được xây dựng theo một mặt bằng hoàn chỉnh. Không gian căn cứ dựa rất nhiều vào địa hình có sẵn.
Các hang và khe đá tự nhiên được sử dụng cho những nhiệm vụ khác nhau. Tư liệu giới thiệu khu di tích hiện còn nhắc đến các địa điểm như hang Huyện ủy, hang Huyện đội, hang Thị xã Cấp và hang Quân y. Toàn khu căn cứ được mô tả với bốn khu vực chính gồm Đá Chẻ, chùa Giếng Gạch, Đá Chồng và chùa Viên.
Tên của những hang đá phần nào cho thấy cách căn cứ từng vận hành.
Có nơi dành cho cơ quan lãnh đạo, có khu vực phục vụ lực lượng quân sự, có nơi đảm nhận việc chăm sóc thương bệnh binh. Những hốc đá vốn hình thành tự nhiên vì thế được con người tổ chức lại thành một mạng lưới phục vụ đời sống và hoạt động trong chiến tranh.
Ở đây, địa hình không chỉ giúp che khuất.
Các khối đá lớn tạo thành những khoảng trú ẩn; rừng cây hạn chế tầm quan sát từ bên ngoài; còn vị trí trên núi cho phép kết nối với nhiều hướng dưới chân núi. Chính sự kết hợp ấy giúp căn cứ tồn tại trong một thời gian dài.
Ngày nay, nhiều hang đá vẫn còn được giữ lại trong không gian di tích. Đi giữa những lối núi và nhìn vào các khoảng đá hẹp, câu chuyện về căn cứ trở nên dễ hình dung hơn nhiều so với khi chỉ đọc tên Minh Đạm trên bản đồ.
Tên gọi Minh Đạm gắn với hai cán bộ Bùi Công Minh và Mạc Thanh Đạm, những người hoạt động tại địa phương và hy sinh trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp. Tên của hai người được ghép lại thành Minh Đạm, rồi dần trở thành tên gọi quen thuộc của căn cứ và dãy núi.
Điều này tạo nên một lớp địa danh khá đặc biệt.
Dãy núi đã tồn tại từ trước và từng được nhận biết qua những tên như Châu Viên – Châu Long cùng các địa danh liên quan khác. Nhưng lịch sử hiện đại đã đặt thêm lên vùng núi một cái tên mới, bắt nguồn từ ký ức về con người.
Từ đó, Minh Đạm không còn chỉ là một tên địa lý.
Trong các cuộc kháng chiến, căn cứ trở thành một trong những địa điểm gắn với hoạt động cách mạng của vùng Bà Rịa – Vũng Tàu trước đây. Các tài liệu bảo tồn hiện vẫn xác định Minh Đạm là một trong những di tích lịch sử cách mạng quan trọng của khu vực.
Chính vì vậy cần phân biệt Núi Minh Đạm và Căn cứ Minh Đạm.
Núi là thực thể tự nhiên với lịch sử địa danh lâu dài. Căn cứ là lớp lịch sử được con người tạo nên trên chính địa hình ấy. Hai câu chuyện liên quan mật thiết nhưng không phải một.
Sau chiến tranh, Minh Đạm chuyển từ một căn cứ hoạt động bí mật thành nơi lưu giữ và giới thiệu ký ức lịch sử.
Không gian khu di tích hiện có đền thờ các anh hùng liệt sĩ, nhà truyền thống và các tuyến dẫn tới những hang từng được sử dụng trong thời kỳ chiến tranh. Minh Đạm cũng trở thành địa điểm của nhiều hoạt động về nguồn, tưởng niệm và tìm hiểu lịch sử.
Sự thay đổi chức năng ấy tạo nên một cách nhìn khác về vùng núi.
Ngày trước, rừng cây, hang đá và những con đường khó tiếp cận giúp con người ẩn mình. Ngày nay, chính những yếu tố ấy lại trở thành chứng tích giúp người đến sau hiểu cách căn cứ từng tồn tại.
Từ trên dãy Minh Đạm, biển Long Hải vẫn nằm phía dưới. Dưới chân núi, vùng dân cư và những tuyến đường ven biển tiếp tục phát triển. Khung cảnh đã khác rất nhiều so với thời chiến, nhưng địa hình cơ bản vẫn giải thích được vì sao nơi này từng được lựa chọn làm căn cứ.
Đó cũng là giá trị đặc biệt của Minh Đạm.
Không cần dựng lại toàn bộ quá khứ, những khối đá, hang núi và vị trí của dãy núi đã tự kể một phần câu chuyện. Chúng cho thấy trong một giai đoạn lịch sử, con người đã dựa vào tự nhiên để tạo nên một không gian sống, hoạt động và chiến đấu ngay giữa vùng núi sát biển Long Hải.
Mapstore tổng hợp, đối chiếu và biên tập từ nhiều nguồn tư liệu. Cập nhật: 20/09/2026.

Công ty TNHH iWater
122/6 Đặng Văn Ngữ, Phường Phú Nhuận, Thành phố Hồ Chí Minh

Công ty TNHH Rượu 5 Châu (Topruou.com)
1368/79/1/3 Lê Văn Lương, Xã Nhà Bè, Thành phố Hồ Chí Minh

Vựa Cá Thạch Nguyệt – Cửa hàng cá tươi tại phường Thới An, TP.HCM
193 Tô Ngọc Vân, Phường Thới An, Thành phố Hồ Chí Minh

MazLaw – Tổ chức đại diện sở hữu trí tuệ tại Hà Nội
430 Đê La Thành, Phường Ô Chợ Dừa, Thành phố Hà Nội

Văn phòng Luật sư Đặng Đình Ngọc – 27 Lê Văn Lương, Hà Nội
27 Lê Văn Lương, Phường Thanh Xuân, Thành phố Hà Nội

Nước mắm và hải sản khô Phước Hải – nghề từ những chuyến biển
Một chuyến biển không kết thúc khi ghe trở về bờ. Cá được gỡ khỏi lưới, phân loại và đưa đi tiêu thụ; phần khác tiếp tục bước vào một vòng đời mới qua bàn tay của những người ở lại trên đất liền. Cá được xẻ, ướp rồi phơi dưới nắng. Những mẻ cá khác được trộn với muối và đưa vào thùng ủ để sau nhiều tháng trở thành nước mắm. Từ nhu cầu bảo quản sản vật của biển, người Phước Hải đã hình thành những nghề chế biến gắn với làng cá qua nhiều thế hệ. Nước mắm và hải sản khô vì thế không chỉ là món quà người ta mua khi đến Phước Hải. Đằng sau chúng là một phần lịch sử sinh kế của cộng đồng sống bên biển.

Phước Hải đến Lộc An – hành trình tiếp tục về phía đông
Rời vùng làng biển Phước Hải tiếp tục theo dải ven biển về phía đông, cảnh quan dần thay đổi. Minh Đạm lùi lại phía sau, đường bờ mở rộng hơn và vùng đất phía trước tiến dần về hệ thống sông Ray. Ở cuối hành trình là Lộc An – một địa danh từng là xã ven biển độc lập, có cửa sông đổ ra Biển Đông và gắn với một bến quan trọng của Đường Hồ Chí Minh trên biển. Điều đặc biệt là sau những lần sắp xếp hành chính năm 2025, cả điểm xuất phát Phước Hải lẫn vùng Lộc An cũ ngày nay đều nằm trong cùng xã Phước Hải, Thành phố Hồ Chí Minh.

Long Hải đến Phước Hải – qua Kỳ Vân và Đèo Nước Ngọt
Từ Long Hải đi về phía đông, quãng đường sang Phước Hải không dài nhưng cảnh quan thay đổi khá rõ. Bãi biển dần khép lại khi núi tiến sát mặt nước, Mũi Kỳ Vân nhô ra phía biển và con đường phải uốn theo chân núi qua Đèo Nước Ngọt. Qua khỏi đoạn địa hình ấy, không gian lại mở ra với biển Phước Hải và một làng cá lâu đời dưới chân Minh Đạm. Vì vậy, hành trình Long Hải – Phước Hải không chỉ nối hai địa danh gần nhau; nó đi xuyên qua một đoạn bờ nơi núi, biển, đường sá và cộng đồng cư dân cùng tạo nên hình dáng của vùng đất.

Lễ hội Nghinh Ông Nam Hải – mùa lễ của ngư dân Phước Hải
Mỗi năm vào tháng Hai âm lịch, nhịp sống của làng biển Phước Hải có những ngày khác thường. Chiếc lưới vốn theo ngư dân ra biển bước vào những cuộc thi đan lưới, cột lưới; hình ảnh tôm cá xuất hiện trong đoàn diễn hành; còn những người cao niên của làng thực hiện nghi thức ra biển nghinh đón Ông Nam Hải về Dinh. Đó là Lễ hội Nghinh Ông Nam Hải – mùa lễ hình thành từ tín ngưỡng cá Ông, nhưng phía sau nghi lễ còn là câu chuyện về nghề biển, tiền hiền, cộng đồng và cách một làng cá gìn giữ ký ức của mình qua nhiều thế hệ.

Ngọc Lăng Nam Hải – nơi cá Ông được an táng bên biển Phước Hải
Sát bờ biển Phước Hải có một không gian rất khác với những bãi cát, ghe thuyền và khu dân cư thường thấy của một làng chài. Dưới những hàng dương là những ngôi mộ có bia ghi “Nam Hải chi mộ” – nơi người dân an táng những cá voi được kính gọi là cá Ông khi chúng lụy vào vùng biển này. Đó là Ngọc Lăng Nam Hải, một không gian tín ngưỡng đặc biệt được hình thành từ chính mối quan hệ lâu đời giữa cộng đồng ngư dân Phước Hải với biển.

Aultmore Distillery – Nhà chưng cất whisky giữa vùng Foggie Moss, Speyside, Scotland
Aultmore Distillery là nhà chưng cất Scotch whisky nằm gần thị trấn Keith, thuộc vùng Speyside của Scotland. Được Alexander Edward thành lập và bắt đầu sản xuất năm 1897, Aultmore đã tồn tại hơn 125 năm giữa một khu vực từ lâu gắn với nghề chưng cất whisky.

The Glenrothes Distillery – Nhà chưng cất Speyside từ năm 1879 tại Rothes, Scotland
The Glenrothes Distillery là nhà chưng cất Single Malt Scotch Whisky nằm tại Rothes, Moray, Scotland, ngay trung tâm vùng whisky Speyside. Được thành lập năm 1879, nhà chưng cất trải qua gần 150 năm phát triển và ngày nay là một trong những tên tuổi lâu đời gắn với thị trấn Rothes.

Stirling Distillery – Khi whisky trở lại dưới chân lâu đài Stirling sau hơn 170 năm
Ngay dưới chân Stirling Castle, giữa khu phố cổ mang đậm dấu ấn lịch sử Scotland, một nhà chưng cất nhỏ đang viết tiếp câu chuyện từng bị gián đoạn hơn một thế kỷ. Stirling Distillery không có quy mô lớn, nhưng vị trí, lịch sử và hành trình đưa whisky trở lại thành phố Stirling khiến nơi đây trở thành một điểm đáng chú ý trên bản đồ whisky Scotland.

Kininvie Distillery – Nhà chưng cất Speyside kín tiếng của William Grant & Sons
Kininvie Distillery là nhà chưng cất Single Malt Scotch Whisky nằm tại Dufftown, Moray, Scotland, thuộc vùng whisky Speyside. Được William Grant & Sons xây dựng năm 1990, Kininvie có vị trí đặc biệt khi nằm ngay trong khu vực của The Balvenie Distillery và gần Glenfiddich – hai nhà chưng cất nổi tiếng cùng thuộc tập đoàn gia đình William Grant & Sons.

Auchentoshan Distillery – Nhà chưng cất whisky Lowland hơn 200 năm bên Glasgow, Scotland
Auchentoshan Distillery là nhà chưng cất Scotch whisky nằm tại Clydebank, ở phía tây bắc Glasgow, Scotland. Nhà chưng cất có lịch sử chính thức từ năm 1823 và ngày nay được biết đến đặc biệt với phương pháp chưng cất ba lần – Triple Distillation, tạo nên phong cách nhẹ, tươi và mềm mại đặc trưng của Auchentoshan Single Malt Scotch Whisky.

Một chuyến biển không kết thúc khi ghe trở về bờ. Cá được gỡ khỏi lưới, phân loại và đưa đi tiêu thụ; phần khác tiếp tục bước vào một vòng đời mới qua bàn tay của những người ở lại trên đất liền. Cá được xẻ, ướp rồi phơi dưới nắng. Những mẻ cá khác được trộn với muối và đưa vào thùng ủ để sau nhiều tháng trở thành nước mắm. Từ nhu cầu bảo quản sản vật của biển, người Phước Hải đã hình thành những nghề chế biến gắn với làng cá qua nhiều thế hệ. Nước mắm và hải sản khô vì thế không chỉ là món quà người ta mua khi đến Phước Hải. Đằng sau chúng là một phần lịch sử sinh kế của cộng đồng sống bên biển.

Rời vùng làng biển Phước Hải tiếp tục theo dải ven biển về phía đông, cảnh quan dần thay đổi. Minh Đạm lùi lại phía sau, đường bờ mở rộng hơn và vùng đất phía trước tiến dần về hệ thống sông Ray. Ở cuối hành trình là Lộc An – một địa danh từng là xã ven biển độc lập, có cửa sông đổ ra Biển Đông và gắn với một bến quan trọng của Đường Hồ Chí Minh trên biển. Điều đặc biệt là sau những lần sắp xếp hành chính năm 2025, cả điểm xuất phát Phước Hải lẫn vùng Lộc An cũ ngày nay đều nằm trong cùng xã Phước Hải, Thành phố Hồ Chí Minh.

Từ Long Hải đi về phía đông, quãng đường sang Phước Hải không dài nhưng cảnh quan thay đổi khá rõ. Bãi biển dần khép lại khi núi tiến sát mặt nước, Mũi Kỳ Vân nhô ra phía biển và con đường phải uốn theo chân núi qua Đèo Nước Ngọt. Qua khỏi đoạn địa hình ấy, không gian lại mở ra với biển Phước Hải và một làng cá lâu đời dưới chân Minh Đạm. Vì vậy, hành trình Long Hải – Phước Hải không chỉ nối hai địa danh gần nhau; nó đi xuyên qua một đoạn bờ nơi núi, biển, đường sá và cộng đồng cư dân cùng tạo nên hình dáng của vùng đất.

Mỗi năm vào tháng Hai âm lịch, nhịp sống của làng biển Phước Hải có những ngày khác thường. Chiếc lưới vốn theo ngư dân ra biển bước vào những cuộc thi đan lưới, cột lưới; hình ảnh tôm cá xuất hiện trong đoàn diễn hành; còn những người cao niên của làng thực hiện nghi thức ra biển nghinh đón Ông Nam Hải về Dinh. Đó là Lễ hội Nghinh Ông Nam Hải – mùa lễ hình thành từ tín ngưỡng cá Ông, nhưng phía sau nghi lễ còn là câu chuyện về nghề biển, tiền hiền, cộng đồng và cách một làng cá gìn giữ ký ức của mình qua nhiều thế hệ.

Sát bờ biển Phước Hải có một không gian rất khác với những bãi cát, ghe thuyền và khu dân cư thường thấy của một làng chài. Dưới những hàng dương là những ngôi mộ có bia ghi “Nam Hải chi mộ” – nơi người dân an táng những cá voi được kính gọi là cá Ông khi chúng lụy vào vùng biển này. Đó là Ngọc Lăng Nam Hải, một không gian tín ngưỡng đặc biệt được hình thành từ chính mối quan hệ lâu đời giữa cộng đồng ngư dân Phước Hải với biển.

Ở một làng biển, niềm tin thường bắt đầu từ những điều rất gần với đời sống. Với ngư dân Phước Hải, biển mang lại nguồn sống nhưng cũng là nơi con người phải đối diện với sóng gió và những bất trắc ngoài khơi. Từ trải nghiệm ấy, cá voi được kính gọi là cá Ông, được xem như vị thần hộ mệnh của người đi biển. Dinh Ông Nam Hải là một trong những nơi cộng đồng gửi gắm niềm tin đó, đồng thời là mắt xích quan trọng trong không gian tín ngưỡng nối Dinh Ông, Ngọc Lăng và Lễ hội Nghinh Ông của làng biển Phước Hải.

Trước khi có tên Phước Hải, vùng làng biển dưới chân Minh Đạm từng được biết đến với một cái tên rất gần với nghề nghiệp của cư dân: Lưới Rê. Từ một xóm chài hình thành bên biển, tên Lưới Rê đi qua lớp tên Hải Chữ rồi bước vào Phước Hải thôn vào đầu thế kỷ XIX. Những tên gọi ấy không chỉ cho biết một địa danh đã thay đổi như thế nào. Chúng còn lưu lại dấu vết về quá trình tụ cư, sinh kế và cách một cộng đồng nghề biển từng bước tạo dựng vùng đất mà ngày nay chúng ta gọi là Phước Hải.

Khi trời còn sớm, bờ biển Phước Hải đã bắt đầu một nhịp sống khác với hình ảnh của một vùng nghỉ dưỡng. Ghe thuyền trở về, cá được đưa lên bờ, lưới được gỡ, hải sản được phân loại trước khi đi vào chợ, các cơ sở chế biến hoặc những sân phơi. Nhịp sống ấy đã tồn tại qua nhiều thế hệ và tạo nên Làng chài Phước Hải – một cộng đồng ven biển dưới chân Minh Đạm, nơi lịch sử của vùng đất gắn chặt với nghề đánh bắt, chế biến hải sản và những tín ngưỡng hình thành từ cuộc sống ngoài khơi.

Từ Đèo Nước Ngọt đi về phía đông, đường bờ mở ra sau đoạn núi tiến sát mặt nước ở Kỳ Vân. Phía trước là biển, phía sau vẫn còn đường nền của hệ núi Minh Đạm, còn ở khoảng giữa là một cộng đồng đã sống bằng nghề biển qua nhiều thế hệ. Bãi biển Phước Hải nằm trong chính không gian ấy. Vì vậy, đây không chỉ là một bãi tắm trên tuyến ven biển, mà còn là nơi cảnh quan tự nhiên và đời sống của làng cá Phước Hải gặp nhau mỗi ngày.