Đang tải bài viết…
Đang tải bài viết…
Ở một làng biển, niềm tin thường bắt đầu từ những điều rất gần với đời sống. Với ngư dân Phước Hải, biển mang lại nguồn sống nhưng cũng là nơi con người phải đối diện với sóng gió và những bất trắc ngoài khơi. Từ trải nghiệm ấy, cá voi được kính gọi là cá Ông, được xem như vị thần hộ mệnh của người đi biển. Dinh Ông Nam Hải là một trong những nơi cộng đồng gửi gắm niềm tin đó, đồng thời là mắt xích quan trọng trong không gian tín ngưỡng nối Dinh Ông, Ngọc Lăng và Lễ hội Nghinh Ông của làng biển Phước Hải.
Dinh Ông Nam Hải ngày nay thuộc xã Phước Hải, Thành phố Hồ Chí Minh. Danh mục di tích và cơ sở văn hóa hiện hành của Sở Văn hóa và Thể thao TP.HCM xác định Dinh Ông Nam Hải tại khu phố Phước An, xã Phước Hải.
Trong các tài liệu trước đợt sắp xếp hành chính, địa điểm thường được ghi thuộc thị trấn Phước Hải, huyện Đất Đỏ, sau đó là huyện Long Đất, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu. Những cách ghi này phản ánh địa giới của từng thời kỳ và vẫn cần được giữ lại khi đối chiếu tư liệu cũ.
Dinh đã có từ lâu đời, được người dân đóng góp xây dựng và trải qua nhiều lần sửa chữa. Hồ sơ hiện hành của ngành văn hóa mô tả công trình được xây bằng xi măng, khung gỗ, mái lợp ngói và nền lát gạch; nguồn du lịch địa phương ghi nhận lần trùng tu, cải tạo căn bản gần đây vào năm 1989.
Nhưng giá trị chính của Dinh không nằm ở tuổi của một công trình hay hình thức kiến trúc.
Nó nằm ở cộng đồng đã tạo ra và tiếp tục sử dụng không gian ấy.
Phước Hải là một làng cá lâu đời. Nhiều thế hệ cư dân sống bằng những chuyến ra khơi, đánh bắt và chế biến sản vật từ biển. Trong môi trường ấy, cá Ông bước vào đời sống tinh thần như một biểu tượng của sự che chở.
Từ đó hình thành nơi thờ tự.
Và từ nơi thờ tự hình thành những nghi lễ được cộng đồng tiếp tục duy trì qua nhiều thế hệ.
Trong văn hóa của nhiều cộng đồng ven biển Việt Nam, cá voi không được gọi đơn giản bằng tên một loài động vật.
Ngư dân kính gọi là Ông, cá Ông hoặc Ông Nam Hải.
Tại Phước Hải, hồ sơ của ngành văn hóa ghi nhận cá Ông được cư dân ven biển xếp vào hàng phúc thần trong hệ thống thần linh biển cả. Niềm tin ấy được bồi đắp qua đời sống của cộng đồng và phát triển thành một hệ thống thờ cúng với nghi thức, nghi lễ riêng.
Các nghiên cứu về văn hóa làng cá Phước Hải cũng cho thấy tín ngưỡng thờ cá Ông là một trong những thành tố nổi bật của đời sống tinh thần cư dân địa phương.
Phía sau niềm tin ấy là những câu chuyện được truyền lại về cá Ông cứu người hoặc giúp ghe thuyền vượt qua nguy hiểm trên biển.
Điều quan trọng không phải xác định từng câu chuyện có xảy ra chính xác như truyền kể hay không. Giá trị văn hóa nằm ở chỗ nhiều thế hệ ngư dân đã dựa vào những trải nghiệm và ký ức cộng đồng ấy để hình thành một cách ứng xử đặc biệt với cá voi.
Khi cá Ông chết – người dân gọi bằng từ “lụy” – xác Ông được đưa vào bờ và an táng theo nghi thức. Người đầu tiên phát hiện Ông lụy còn được xem như người có trách nhiệm đặc biệt đối với việc tang. Tư liệu hiện nay ghi nhận tại Phước Hải tục lệ ấy vẫn tiếp tục được cộng đồng duy trì.
Sau một thời gian an táng, phần cốt được cải táng và đưa về không gian thờ phụng. Chính tập tục này tạo nên mối quan hệ rất đặc biệt giữa Dinh Ông Nam Hải và Ngọc Lăng Nam Hải.
Dinh Ông Nam Hải không nên bị nhầm với Ngọc Lăng Nam Hải.
Danh mục của Sở Văn hóa và Thể thao TP.HCM hiện ghi chúng thành hai thực thể riêng biệt: Dinh Ông Nam Hải tại khu phố Phước An và Ngọc Lăng Nam Hải – Nghĩa địa cá Ông – tại khu phố Lộc An, xã Phước Hải.
Chức năng của hai nơi cũng khác nhau.
Dinh Ông là không gian thờ tự và thực hành tín ngưỡng Nam Hải.
Ngọc Lăng là nơi cộng đồng an táng những cá Ông lụy được đưa vào bờ.
Sau thời gian chôn cất, ngư dân thực hiện nghi thức cải táng và phần cốt được đưa về không gian thờ phụng. Các nguồn hiện nay đều ghi nhận tập tục này, dù có khác biệt về một số chi tiết và khoảng cách giữa hai địa điểm.
Mối quan hệ ấy khiến tín ngưỡng cá Ông ở Phước Hải không nằm gọn trong một ngôi Dinh.
Nó trải ra trên cả không gian của làng.
Khi một cá Ông lụy, câu chuyện bắt đầu từ biển.
Từ biển, Ông được đưa vào bờ và an táng.
Sau đó là quá trình chăm sóc phần mộ, cải táng và thờ phụng.
Đến mùa Nghinh Ông, những không gian này lại được nối với nhau bằng nghi lễ cộng đồng.
Nhìn theo cách ấy, Dinh Ông – Ngọc Lăng – biển Phước Hải không phải ba điểm độc lập. Chúng tạo thành một mạng không gian tín ngưỡng bắt nguồn trực tiếp từ đời sống nghề biển.
Hằng năm, tín ngưỡng thờ cá Ông bước ra khỏi không gian thường ngày để trở thành lễ hội của cộng đồng.
Nguồn du lịch địa phương và tài liệu giáo dục đều xác nhận Phước Hải có truyền thống tổ chức Lễ hội Nghinh Ông vào tháng Hai âm lịch. Nguồn hiện hành của địa phương ghi lễ hội trong ba ngày 15, 16 và 17 tháng Hai âm lịch, với ngày 17 là chính lễ.
Đáng chú ý, lễ hội không chỉ diễn ra tại Dinh Ông.
Các không gian nghi lễ còn liên quan đến khu mộ Tiền hiền – Hậu hiền và Ngọc Lăng Nam Hải. Điều đó phản ánh khá rõ cấu trúc văn hóa của một cộng đồng: người dân tưởng nhớ những người có công khai phá làng, thực hành tín ngưỡng đối với Ông Nam Hải và cùng hướng về biển – nơi tạo ra sinh kế của mình.
Đến năm 2026, Lễ hội Nghinh Ông Nam Hải vẫn được tổ chức tại xã Phước Hải.
Bên cạnh nghi lễ, phần hội có những hoạt động như thi đan lưới, cột lưới và gánh cá trên cát. Đây đều là những công việc hoặc hình ảnh bắt nguồn từ đời sống lao động của cư dân biển.
Chi tiết này cho thấy lễ hội không đứng ngoài nghề nghiệp của cộng đồng.
Chiếc lưới từ công cụ đánh bắt bước vào ngày hội.
Con cá từ sản vật của biển trở thành hình ảnh văn hóa.
Còn niềm tin vào Ông Nam Hải từ những chuyến đi riêng của từng ngư dân trở thành một nghi lễ chung của cả làng.
Đó cũng là lý do không nên nhìn Dinh Ông Nam Hải như một địa điểm tâm linh đơn lẻ.
Dinh là nơi một phần ký ức nghề biển được lưu giữ.
Phía ngoài Dinh là làng chài.
Xa hơn là Ngọc Lăng.
Và trước tất cả những không gian ấy vẫn là biển.
Từ biển, người Phước Hải tìm được sinh kế. Cũng từ những bất trắc của biển, họ hình thành niềm tin vào sự che chở của cá Ông. Qua nhiều thế hệ, niềm tin ấy được cộng đồng tổ chức thành nơi thờ tự, nghi lễ và lễ hội.
Vì vậy, giá trị của Dinh Ông Nam Hải không chỉ nằm ở công trình còn hiện diện ngày nay. Ngôi Dinh là dấu vết cho thấy một cộng đồng sống bằng biển đã biến kinh nghiệm đối diện với biển thành tín ngưỡng, rồi từ tín ngưỡng tạo nên một phần bản sắc của chính làng mình.
Mapstore tổng hợp, đối chiếu và biên tập từ nhiều nguồn tư liệu. Cập nhật: 20/09/2026.

Công ty TNHH iWater
122/6 Đặng Văn Ngữ, Phường Phú Nhuận, Thành phố Hồ Chí Minh

Công ty TNHH Rượu 5 Châu (Topruou.com)
1368/79/1/3 Lê Văn Lương, Xã Nhà Bè, Thành phố Hồ Chí Minh

Vựa Cá Thạch Nguyệt – Cửa hàng cá tươi tại phường Thới An, TP.HCM
193 Tô Ngọc Vân, Phường Thới An, Thành phố Hồ Chí Minh

MazLaw – Tổ chức đại diện sở hữu trí tuệ tại Hà Nội
430 Đê La Thành, Phường Ô Chợ Dừa, Thành phố Hà Nội

Văn phòng Luật sư Đặng Đình Ngọc – 27 Lê Văn Lương, Hà Nội
27 Lê Văn Lương, Phường Thanh Xuân, Thành phố Hà Nội

Nước mắm và hải sản khô Phước Hải – nghề từ những chuyến biển
Một chuyến biển không kết thúc khi ghe trở về bờ. Cá được gỡ khỏi lưới, phân loại và đưa đi tiêu thụ; phần khác tiếp tục bước vào một vòng đời mới qua bàn tay của những người ở lại trên đất liền. Cá được xẻ, ướp rồi phơi dưới nắng. Những mẻ cá khác được trộn với muối và đưa vào thùng ủ để sau nhiều tháng trở thành nước mắm. Từ nhu cầu bảo quản sản vật của biển, người Phước Hải đã hình thành những nghề chế biến gắn với làng cá qua nhiều thế hệ. Nước mắm và hải sản khô vì thế không chỉ là món quà người ta mua khi đến Phước Hải. Đằng sau chúng là một phần lịch sử sinh kế của cộng đồng sống bên biển.

Phước Hải đến Lộc An – hành trình tiếp tục về phía đông
Rời vùng làng biển Phước Hải tiếp tục theo dải ven biển về phía đông, cảnh quan dần thay đổi. Minh Đạm lùi lại phía sau, đường bờ mở rộng hơn và vùng đất phía trước tiến dần về hệ thống sông Ray. Ở cuối hành trình là Lộc An – một địa danh từng là xã ven biển độc lập, có cửa sông đổ ra Biển Đông và gắn với một bến quan trọng của Đường Hồ Chí Minh trên biển. Điều đặc biệt là sau những lần sắp xếp hành chính năm 2025, cả điểm xuất phát Phước Hải lẫn vùng Lộc An cũ ngày nay đều nằm trong cùng xã Phước Hải, Thành phố Hồ Chí Minh.

Long Hải đến Phước Hải – qua Kỳ Vân và Đèo Nước Ngọt
Từ Long Hải đi về phía đông, quãng đường sang Phước Hải không dài nhưng cảnh quan thay đổi khá rõ. Bãi biển dần khép lại khi núi tiến sát mặt nước, Mũi Kỳ Vân nhô ra phía biển và con đường phải uốn theo chân núi qua Đèo Nước Ngọt. Qua khỏi đoạn địa hình ấy, không gian lại mở ra với biển Phước Hải và một làng cá lâu đời dưới chân Minh Đạm. Vì vậy, hành trình Long Hải – Phước Hải không chỉ nối hai địa danh gần nhau; nó đi xuyên qua một đoạn bờ nơi núi, biển, đường sá và cộng đồng cư dân cùng tạo nên hình dáng của vùng đất.

Lễ hội Nghinh Ông Nam Hải – mùa lễ của ngư dân Phước Hải
Mỗi năm vào tháng Hai âm lịch, nhịp sống của làng biển Phước Hải có những ngày khác thường. Chiếc lưới vốn theo ngư dân ra biển bước vào những cuộc thi đan lưới, cột lưới; hình ảnh tôm cá xuất hiện trong đoàn diễn hành; còn những người cao niên của làng thực hiện nghi thức ra biển nghinh đón Ông Nam Hải về Dinh. Đó là Lễ hội Nghinh Ông Nam Hải – mùa lễ hình thành từ tín ngưỡng cá Ông, nhưng phía sau nghi lễ còn là câu chuyện về nghề biển, tiền hiền, cộng đồng và cách một làng cá gìn giữ ký ức của mình qua nhiều thế hệ.

Ngọc Lăng Nam Hải – nơi cá Ông được an táng bên biển Phước Hải
Sát bờ biển Phước Hải có một không gian rất khác với những bãi cát, ghe thuyền và khu dân cư thường thấy của một làng chài. Dưới những hàng dương là những ngôi mộ có bia ghi “Nam Hải chi mộ” – nơi người dân an táng những cá voi được kính gọi là cá Ông khi chúng lụy vào vùng biển này. Đó là Ngọc Lăng Nam Hải, một không gian tín ngưỡng đặc biệt được hình thành từ chính mối quan hệ lâu đời giữa cộng đồng ngư dân Phước Hải với biển.

Aultmore Distillery – Nhà chưng cất whisky giữa vùng Foggie Moss, Speyside, Scotland
Aultmore Distillery là nhà chưng cất Scotch whisky nằm gần thị trấn Keith, thuộc vùng Speyside của Scotland. Được Alexander Edward thành lập và bắt đầu sản xuất năm 1897, Aultmore đã tồn tại hơn 125 năm giữa một khu vực từ lâu gắn với nghề chưng cất whisky.

The Glenrothes Distillery – Nhà chưng cất Speyside từ năm 1879 tại Rothes, Scotland
The Glenrothes Distillery là nhà chưng cất Single Malt Scotch Whisky nằm tại Rothes, Moray, Scotland, ngay trung tâm vùng whisky Speyside. Được thành lập năm 1879, nhà chưng cất trải qua gần 150 năm phát triển và ngày nay là một trong những tên tuổi lâu đời gắn với thị trấn Rothes.

Stirling Distillery – Khi whisky trở lại dưới chân lâu đài Stirling sau hơn 170 năm
Ngay dưới chân Stirling Castle, giữa khu phố cổ mang đậm dấu ấn lịch sử Scotland, một nhà chưng cất nhỏ đang viết tiếp câu chuyện từng bị gián đoạn hơn một thế kỷ. Stirling Distillery không có quy mô lớn, nhưng vị trí, lịch sử và hành trình đưa whisky trở lại thành phố Stirling khiến nơi đây trở thành một điểm đáng chú ý trên bản đồ whisky Scotland.

Kininvie Distillery – Nhà chưng cất Speyside kín tiếng của William Grant & Sons
Kininvie Distillery là nhà chưng cất Single Malt Scotch Whisky nằm tại Dufftown, Moray, Scotland, thuộc vùng whisky Speyside. Được William Grant & Sons xây dựng năm 1990, Kininvie có vị trí đặc biệt khi nằm ngay trong khu vực của The Balvenie Distillery và gần Glenfiddich – hai nhà chưng cất nổi tiếng cùng thuộc tập đoàn gia đình William Grant & Sons.

Auchentoshan Distillery – Nhà chưng cất whisky Lowland hơn 200 năm bên Glasgow, Scotland
Auchentoshan Distillery là nhà chưng cất Scotch whisky nằm tại Clydebank, ở phía tây bắc Glasgow, Scotland. Nhà chưng cất có lịch sử chính thức từ năm 1823 và ngày nay được biết đến đặc biệt với phương pháp chưng cất ba lần – Triple Distillation, tạo nên phong cách nhẹ, tươi và mềm mại đặc trưng của Auchentoshan Single Malt Scotch Whisky.

Một chuyến biển không kết thúc khi ghe trở về bờ. Cá được gỡ khỏi lưới, phân loại và đưa đi tiêu thụ; phần khác tiếp tục bước vào một vòng đời mới qua bàn tay của những người ở lại trên đất liền. Cá được xẻ, ướp rồi phơi dưới nắng. Những mẻ cá khác được trộn với muối và đưa vào thùng ủ để sau nhiều tháng trở thành nước mắm. Từ nhu cầu bảo quản sản vật của biển, người Phước Hải đã hình thành những nghề chế biến gắn với làng cá qua nhiều thế hệ. Nước mắm và hải sản khô vì thế không chỉ là món quà người ta mua khi đến Phước Hải. Đằng sau chúng là một phần lịch sử sinh kế của cộng đồng sống bên biển.

Rời vùng làng biển Phước Hải tiếp tục theo dải ven biển về phía đông, cảnh quan dần thay đổi. Minh Đạm lùi lại phía sau, đường bờ mở rộng hơn và vùng đất phía trước tiến dần về hệ thống sông Ray. Ở cuối hành trình là Lộc An – một địa danh từng là xã ven biển độc lập, có cửa sông đổ ra Biển Đông và gắn với một bến quan trọng của Đường Hồ Chí Minh trên biển. Điều đặc biệt là sau những lần sắp xếp hành chính năm 2025, cả điểm xuất phát Phước Hải lẫn vùng Lộc An cũ ngày nay đều nằm trong cùng xã Phước Hải, Thành phố Hồ Chí Minh.

Từ Long Hải đi về phía đông, quãng đường sang Phước Hải không dài nhưng cảnh quan thay đổi khá rõ. Bãi biển dần khép lại khi núi tiến sát mặt nước, Mũi Kỳ Vân nhô ra phía biển và con đường phải uốn theo chân núi qua Đèo Nước Ngọt. Qua khỏi đoạn địa hình ấy, không gian lại mở ra với biển Phước Hải và một làng cá lâu đời dưới chân Minh Đạm. Vì vậy, hành trình Long Hải – Phước Hải không chỉ nối hai địa danh gần nhau; nó đi xuyên qua một đoạn bờ nơi núi, biển, đường sá và cộng đồng cư dân cùng tạo nên hình dáng của vùng đất.

Mỗi năm vào tháng Hai âm lịch, nhịp sống của làng biển Phước Hải có những ngày khác thường. Chiếc lưới vốn theo ngư dân ra biển bước vào những cuộc thi đan lưới, cột lưới; hình ảnh tôm cá xuất hiện trong đoàn diễn hành; còn những người cao niên của làng thực hiện nghi thức ra biển nghinh đón Ông Nam Hải về Dinh. Đó là Lễ hội Nghinh Ông Nam Hải – mùa lễ hình thành từ tín ngưỡng cá Ông, nhưng phía sau nghi lễ còn là câu chuyện về nghề biển, tiền hiền, cộng đồng và cách một làng cá gìn giữ ký ức của mình qua nhiều thế hệ.

Sát bờ biển Phước Hải có một không gian rất khác với những bãi cát, ghe thuyền và khu dân cư thường thấy của một làng chài. Dưới những hàng dương là những ngôi mộ có bia ghi “Nam Hải chi mộ” – nơi người dân an táng những cá voi được kính gọi là cá Ông khi chúng lụy vào vùng biển này. Đó là Ngọc Lăng Nam Hải, một không gian tín ngưỡng đặc biệt được hình thành từ chính mối quan hệ lâu đời giữa cộng đồng ngư dân Phước Hải với biển.

Trước khi có tên Phước Hải, vùng làng biển dưới chân Minh Đạm từng được biết đến với một cái tên rất gần với nghề nghiệp của cư dân: Lưới Rê. Từ một xóm chài hình thành bên biển, tên Lưới Rê đi qua lớp tên Hải Chữ rồi bước vào Phước Hải thôn vào đầu thế kỷ XIX. Những tên gọi ấy không chỉ cho biết một địa danh đã thay đổi như thế nào. Chúng còn lưu lại dấu vết về quá trình tụ cư, sinh kế và cách một cộng đồng nghề biển từng bước tạo dựng vùng đất mà ngày nay chúng ta gọi là Phước Hải.

Khi trời còn sớm, bờ biển Phước Hải đã bắt đầu một nhịp sống khác với hình ảnh của một vùng nghỉ dưỡng. Ghe thuyền trở về, cá được đưa lên bờ, lưới được gỡ, hải sản được phân loại trước khi đi vào chợ, các cơ sở chế biến hoặc những sân phơi. Nhịp sống ấy đã tồn tại qua nhiều thế hệ và tạo nên Làng chài Phước Hải – một cộng đồng ven biển dưới chân Minh Đạm, nơi lịch sử của vùng đất gắn chặt với nghề đánh bắt, chế biến hải sản và những tín ngưỡng hình thành từ cuộc sống ngoài khơi.

Từ Đèo Nước Ngọt đi về phía đông, đường bờ mở ra sau đoạn núi tiến sát mặt nước ở Kỳ Vân. Phía trước là biển, phía sau vẫn còn đường nền của hệ núi Minh Đạm, còn ở khoảng giữa là một cộng đồng đã sống bằng nghề biển qua nhiều thế hệ. Bãi biển Phước Hải nằm trong chính không gian ấy. Vì vậy, đây không chỉ là một bãi tắm trên tuyến ven biển, mà còn là nơi cảnh quan tự nhiên và đời sống của làng cá Phước Hải gặp nhau mỗi ngày.

Phước Hải nằm ở nơi dãy Minh Đạm dần hạ xuống phía biển, mở ra một vùng cư trú đã gắn với nghề đánh bắt qua nhiều thế hệ. Trước khi những khu nghỉ dưỡng và tuyến đường ven biển làm thay đổi diện mạo vùng đất, nơi đây đã là một làng cá lâu đời với những lớp tên Lưới Rê, Hải Chữ rồi Phước Hải. Biển tạo nên sinh kế, còn từ chính đời sống trên biển đã hình thành nghề chế biến hải sản, tục thờ cá Ông, Lễ hội Nghinh Ông và một hệ thống ký ức cộng đồng vẫn còn hiện diện đến ngày nay.