Đang tải bài viết…
Đang tải bài viết…
Sát bờ biển Phước Hải có một không gian rất khác với những bãi cát, ghe thuyền và khu dân cư thường thấy của một làng chài. Dưới những hàng dương là những ngôi mộ có bia ghi “Nam Hải chi mộ” – nơi người dân an táng những cá voi được kính gọi là cá Ông khi chúng lụy vào vùng biển này. Đó là Ngọc Lăng Nam Hải, một không gian tín ngưỡng đặc biệt được hình thành từ chính mối quan hệ lâu đời giữa cộng đồng ngư dân Phước Hải với biển.
Ngọc Lăng Nam Hải ngày nay thuộc xã Phước Hải, Thành phố Hồ Chí Minh. Danh mục hiện hành của Sở Văn hóa và Thể thao TP.HCM xác định thực thể với tên “Ngọc Lăng Nam Hải (Nghĩa địa cá Ông)”, tại khu phố Lộc An, xã Phước Hải.
Trong các tài liệu trước khi thay đổi địa giới hành chính, địa điểm thường được ghi thuộc thị trấn Phước Hải, huyện Đất Đỏ, sau đó là huyện Long Đất, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu. Đây là lý do người đọc hiện nay có thể gặp nhiều cách ghi địa chỉ khác nhau khi tra cứu cùng một địa danh.
Ngọc Lăng nằm sát vùng bờ biển, dưới những hàng dương. TTXVN năm 2026 tiếp tục ghi nhận đây là một không gian văn hóa tâm linh của cộng đồng cư dân miền biển Phước Hải, nơi an nghỉ của những cá voi được người dân tôn kính gọi là Ông hoặc Ông Nam Hải.
Điều làm nơi đây đặc biệt không phải chỉ vì cá voi được chôn cất.
Đáng chú ý hơn là cách một cộng đồng đối xử với chúng.
Mỗi ngôi mộ đều gắn với một cá thể đã được người dân tiếp nhận, làm nghi thức và an táng. Trên nhiều bia mộ có dòng chữ “Nam Hải chi mộ”, ngày Ông lụy và thông tin liên quan đến người hoặc ghe phát hiện.
Vì vậy, Ngọc Lăng không đơn thuần là nơi tập hợp những xác cá voi dạt vào bờ.
Đây là một nghĩa địa được cộng đồng tạo lập và chăm sóc theo quan niệm tín ngưỡng của chính mình.
Muốn hiểu Ngọc Lăng, trước hết phải hiểu cách người Phước Hải nhìn cá voi.
Trong đời sống của cư dân ven biển, cá voi được kính gọi là cá Ông, Ông Nam Hải và được xem như một vị thần hộ mệnh ngoài khơi. Hồ sơ của ngành văn hóa TP.HCM ghi nhận niềm tin của ngư dân rằng cá Ông giúp người đi biển vượt qua hiểm nguy, tai nạn và đem lại sự bình an cho những chuyến ra khơi.
Khi cá Ông chết, người dân không thường dùng cách nói như đối với một con vật thông thường mà gọi là Ông lụy.
Sự khác biệt trong cách gọi cũng phản ánh vị trí của cá Ông trong đời sống tinh thần của cộng đồng.
Khi một Ông lụy được phát hiện, người dân tổ chức an táng. Người đầu tiên phát hiện còn được xem là người có trách nhiệm đặc biệt đối với tang sự; hồ sơ văn hóa hiện hành ghi nhận người này được coi như “con trai cả” và phải chịu tang.
Như vậy, một sự việc tự nhiên – cá voi chết và trôi dạt vào bờ – khi đi vào đời sống của làng biển đã trở thành một sự kiện mang tính cộng đồng.
Người dân không chỉ đưa xác khỏi bãi biển.
Họ tiếp nhận Ông, an táng Ông và ghi lại sự hiện diện ấy bằng một ngôi mộ.
Qua nhiều lần như vậy, một không gian đặc biệt dần hình thành bên bờ biển Phước Hải.
Khu vực an táng là phần dễ nhận ra nhất của Ngọc Lăng.
Các tư liệu mô tả những ngôi mộ được bố trí thành từng khu dưới hàng dương. Mỗi phần mộ có bát hương và bia bằng xi măng. Trên mặt bia thường ghi “Nam Hải chi mộ” cùng ngày tháng Ông lụy; một số bia còn lưu tên người hoặc ghe phát hiện cá Ông.
Chính những tấm bia ấy khiến khu mộ mang một giá trị khác ngoài tín ngưỡng.
Chúng là những dấu ghi.
Mỗi ngôi mộ tương ứng với một lần cá Ông xuất hiện trên vùng biển hoặc đường bờ của cộng đồng. Ngày tháng được ghi lại, người phát hiện được lưu tên và sự kiện trở thành một phần ký ức của làng.
Tuy nhiên, số lượng mộ hiện hữu không nên được hiểu là tổng số cá Ông từng được an táng tại đây.
Lý do nằm ở một nghi thức quan trọng khác: cải táng.
Hồ sơ của Sở Văn hóa và Thể thao TP.HCM cho biết hằng năm vào ngày 12 tháng Hai âm lịch, Ban tế tự tổ chức lễ bốc mộ cá Ông. Nghiên cứu văn hóa về Phước Hải cũng phân biệt giữa những mộ cá Ông chưa cải táng và phần hài cốt đã được lưu giữ sau quá trình này.
Vì thế, con số những ngôi mộ nhìn thấy tại một thời điểm chỉ phản ánh một phần của lịch sử Ngọc Lăng.
Phía sau những phần mộ còn là những Ông đã được cải táng và tiếp tục bước vào một giai đoạn khác của đời sống tín ngưỡng.
Đây cũng là điểm giúp phân biệt rõ Ngọc Lăng Nam Hải với Dinh Ông Nam Hải.
Ngọc Lăng trước hết là không gian gắn với an táng và cải táng cá Ông.
Dinh Ông là không gian thờ tự và thực hành tín ngưỡng của cộng đồng.
Hai nơi có quan hệ rất gần về văn hóa nhưng không phải một địa điểm. Danh mục hiện hành của TP.HCM cũng xác định chúng thành hai thực thể riêng: Dinh Ông ở khu phố Phước An và Ngọc Lăng ở khu phố Lộc An, cùng thuộc xã Phước Hải.
Mối quan hệ giữa hai nơi giúp nhìn thấy cả một vòng đời nghi lễ.
Ngoài biển là nơi ngư dân tin rằng Ông che chở con người.
Khi Ông lụy, xác được đưa vào bờ.
Tại Ngọc Lăng, Ông được an táng.
Sau một thời gian là nghi thức bốc mộ, cải táng và gìn giữ phần cốt theo phong tục.
Còn Dinh Ông là nơi niềm tin vào Nam Hải Đại Tướng Quân được cộng đồng thờ phụng và tiếp tục qua các nghi lễ.
Đến mùa Nghinh Ông, những không gian vốn nằm ở những vị trí khác nhau lại được nối với nhau trong sinh hoạt chung của làng. Nguồn du lịch địa phương ghi nhận Lễ hội Nghinh Ông Phước Hải diễn ra qua các không gian gồm khu mộ Tiền hiền – Hậu hiền, Dinh Ông Nam Hải và Ngọc Lăng Nam Hải.
Như vậy, Ngọc Lăng không đứng riêng giữa bờ biển.
Nó là một phần của cả một hệ thống tín ngưỡng biển.
Ngọc Lăng thường được giới thiệu là khu nghĩa địa cá Ông lớn nhất Việt Nam. Nguồn du lịch địa phương còn ghi nhận địa điểm từng được Trung tâm Sách Kỷ lục Việt Nam xác lập danh hiệu này vào năm 2011.
Tuy nhiên, khi đi sâu vào dữ liệu, các con số về Ngọc Lăng hiện chưa hoàn toàn thống nhất.
Nguồn du lịch địa phương ghi khu nghĩa địa được xây dựng năm 1999, diện tích khoảng 3.000 m² và có hơn 200 ngôi mộ. Một nghiên cứu văn hóa cũng lấy năm 1999 nhưng ghi phạm vi khoảng 6.500 m², gần 100 mộ chưa cải táng và khoảng 400 bộ hài cốt. Trong khi đó, hồ sơ hiện hành của ngành văn hóa TP.HCM ghi xây dựng năm 1989. TTXVN năm 2026 lại ghi hình thành từ 1991, diện tích khoảng 6.000 m² và hiện có hàng chục ngôi mộ.
Sự khác biệt có thể đến từ thời điểm thống kê, việc cải táng liên tục, cách xác định phạm vi khuôn viên hoặc cách các tài liệu phân biệt thời điểm hình thành khu mộ với thời điểm xây dựng, chỉnh trang công trình. Các nguồn hiện có chưa đủ để khẳng định một nguyên nhân duy nhất.
Vì vậy, giá trị của Ngọc Lăng không nên được đặt chủ yếu vào một con số.
Điều có thể nhận diện rõ hơn là sự tồn tại liên tục của một không gian an táng cá Ông gắn với cộng đồng Phước Hải và tín ngưỡng Nam Hải.
Nhìn từ bên ngoài, Ngọc Lăng có thể khiến người ta chú ý bởi sự khác thường: một nghĩa địa dành cho cá voi ngay bên bờ biển.
Nhưng với cộng đồng Phước Hải, ý nghĩa của nơi này sâu hơn.
Biển là nơi tạo ra sinh kế nhưng cũng là môi trường mà con người không thể kiểm soát hoàn toàn. Những chuyến đi biển mang theo hy vọng về tôm cá nhưng đồng thời luôn có sóng, gió và những hiểm nguy ngoài khơi.
Trong hoàn cảnh ấy, câu chuyện về cá Ông cứu người trở thành một phần của ký ức nghề biển.
Từ niềm tin hình thành cách ứng xử.
Từ cách ứng xử hình thành nghi lễ.
Và từ những lần Ông lụy vào bờ, một nghĩa địa dần xuất hiện.
Bởi vậy, những ngôi mộ tại Ngọc Lăng không chỉ kể về cá voi.
Chúng còn kể về chính những người sống ở Phước Hải.
Mỗi tấm bia “Nam Hải chi mộ” là dấu vết của một lần biển đưa Ông về với làng. Mỗi nghi thức an táng hay cải táng cho thấy cách cộng đồng thể hiện lòng biết ơn đối với vị thần mà họ tin đã che chở người đi biển.
Nếu Dinh Ông Nam Hải cho thấy nơi ngư dân gửi gắm niềm tin, thì Ngọc Lăng Nam Hải cho thấy cách niềm tin ấy được thực hành khi cá Ông thực sự trở về bờ.
Và chính điều đó khiến Ngọc Lăng trở thành một thực thể đặc biệt trong bản đồ văn hóa Phước Hải: một nơi mà biển, cá Ông và ký ức của nhiều thế hệ ngư dân cùng được lưu lại trên đất liền.
Mapstore tổng hợp, đối chiếu và biên tập từ nhiều nguồn tư liệu. Cập nhật: 20/09/2026.

Công ty TNHH iWater
122/6 Đặng Văn Ngữ, Phường Phú Nhuận, Thành phố Hồ Chí Minh

Công ty TNHH Rượu 5 Châu (Topruou.com)
1368/79/1/3 Lê Văn Lương, Xã Nhà Bè, Thành phố Hồ Chí Minh

Vựa Cá Thạch Nguyệt – Cửa hàng cá tươi tại phường Thới An, TP.HCM
193 Tô Ngọc Vân, Phường Thới An, Thành phố Hồ Chí Minh

MazLaw – Tổ chức đại diện sở hữu trí tuệ tại Hà Nội
430 Đê La Thành, Phường Ô Chợ Dừa, Thành phố Hà Nội

Văn phòng Luật sư Đặng Đình Ngọc – 27 Lê Văn Lương, Hà Nội
27 Lê Văn Lương, Phường Thanh Xuân, Thành phố Hà Nội

Nước mắm và hải sản khô Phước Hải – nghề từ những chuyến biển
Một chuyến biển không kết thúc khi ghe trở về bờ. Cá được gỡ khỏi lưới, phân loại và đưa đi tiêu thụ; phần khác tiếp tục bước vào một vòng đời mới qua bàn tay của những người ở lại trên đất liền. Cá được xẻ, ướp rồi phơi dưới nắng. Những mẻ cá khác được trộn với muối và đưa vào thùng ủ để sau nhiều tháng trở thành nước mắm. Từ nhu cầu bảo quản sản vật của biển, người Phước Hải đã hình thành những nghề chế biến gắn với làng cá qua nhiều thế hệ. Nước mắm và hải sản khô vì thế không chỉ là món quà người ta mua khi đến Phước Hải. Đằng sau chúng là một phần lịch sử sinh kế của cộng đồng sống bên biển.

Phước Hải đến Lộc An – hành trình tiếp tục về phía đông
Rời vùng làng biển Phước Hải tiếp tục theo dải ven biển về phía đông, cảnh quan dần thay đổi. Minh Đạm lùi lại phía sau, đường bờ mở rộng hơn và vùng đất phía trước tiến dần về hệ thống sông Ray. Ở cuối hành trình là Lộc An – một địa danh từng là xã ven biển độc lập, có cửa sông đổ ra Biển Đông và gắn với một bến quan trọng của Đường Hồ Chí Minh trên biển. Điều đặc biệt là sau những lần sắp xếp hành chính năm 2025, cả điểm xuất phát Phước Hải lẫn vùng Lộc An cũ ngày nay đều nằm trong cùng xã Phước Hải, Thành phố Hồ Chí Minh.

Long Hải đến Phước Hải – qua Kỳ Vân và Đèo Nước Ngọt
Từ Long Hải đi về phía đông, quãng đường sang Phước Hải không dài nhưng cảnh quan thay đổi khá rõ. Bãi biển dần khép lại khi núi tiến sát mặt nước, Mũi Kỳ Vân nhô ra phía biển và con đường phải uốn theo chân núi qua Đèo Nước Ngọt. Qua khỏi đoạn địa hình ấy, không gian lại mở ra với biển Phước Hải và một làng cá lâu đời dưới chân Minh Đạm. Vì vậy, hành trình Long Hải – Phước Hải không chỉ nối hai địa danh gần nhau; nó đi xuyên qua một đoạn bờ nơi núi, biển, đường sá và cộng đồng cư dân cùng tạo nên hình dáng của vùng đất.

Lễ hội Nghinh Ông Nam Hải – mùa lễ của ngư dân Phước Hải
Mỗi năm vào tháng Hai âm lịch, nhịp sống của làng biển Phước Hải có những ngày khác thường. Chiếc lưới vốn theo ngư dân ra biển bước vào những cuộc thi đan lưới, cột lưới; hình ảnh tôm cá xuất hiện trong đoàn diễn hành; còn những người cao niên của làng thực hiện nghi thức ra biển nghinh đón Ông Nam Hải về Dinh. Đó là Lễ hội Nghinh Ông Nam Hải – mùa lễ hình thành từ tín ngưỡng cá Ông, nhưng phía sau nghi lễ còn là câu chuyện về nghề biển, tiền hiền, cộng đồng và cách một làng cá gìn giữ ký ức của mình qua nhiều thế hệ.

Ngọc Lăng Nam Hải – nơi cá Ông được an táng bên biển Phước Hải
Sát bờ biển Phước Hải có một không gian rất khác với những bãi cát, ghe thuyền và khu dân cư thường thấy của một làng chài. Dưới những hàng dương là những ngôi mộ có bia ghi “Nam Hải chi mộ” – nơi người dân an táng những cá voi được kính gọi là cá Ông khi chúng lụy vào vùng biển này. Đó là Ngọc Lăng Nam Hải, một không gian tín ngưỡng đặc biệt được hình thành từ chính mối quan hệ lâu đời giữa cộng đồng ngư dân Phước Hải với biển.

Aultmore Distillery – Nhà chưng cất whisky giữa vùng Foggie Moss, Speyside, Scotland
Aultmore Distillery là nhà chưng cất Scotch whisky nằm gần thị trấn Keith, thuộc vùng Speyside của Scotland. Được Alexander Edward thành lập và bắt đầu sản xuất năm 1897, Aultmore đã tồn tại hơn 125 năm giữa một khu vực từ lâu gắn với nghề chưng cất whisky.

The Glenrothes Distillery – Nhà chưng cất Speyside từ năm 1879 tại Rothes, Scotland
The Glenrothes Distillery là nhà chưng cất Single Malt Scotch Whisky nằm tại Rothes, Moray, Scotland, ngay trung tâm vùng whisky Speyside. Được thành lập năm 1879, nhà chưng cất trải qua gần 150 năm phát triển và ngày nay là một trong những tên tuổi lâu đời gắn với thị trấn Rothes.

Stirling Distillery – Khi whisky trở lại dưới chân lâu đài Stirling sau hơn 170 năm
Ngay dưới chân Stirling Castle, giữa khu phố cổ mang đậm dấu ấn lịch sử Scotland, một nhà chưng cất nhỏ đang viết tiếp câu chuyện từng bị gián đoạn hơn một thế kỷ. Stirling Distillery không có quy mô lớn, nhưng vị trí, lịch sử và hành trình đưa whisky trở lại thành phố Stirling khiến nơi đây trở thành một điểm đáng chú ý trên bản đồ whisky Scotland.

Kininvie Distillery – Nhà chưng cất Speyside kín tiếng của William Grant & Sons
Kininvie Distillery là nhà chưng cất Single Malt Scotch Whisky nằm tại Dufftown, Moray, Scotland, thuộc vùng whisky Speyside. Được William Grant & Sons xây dựng năm 1990, Kininvie có vị trí đặc biệt khi nằm ngay trong khu vực của The Balvenie Distillery và gần Glenfiddich – hai nhà chưng cất nổi tiếng cùng thuộc tập đoàn gia đình William Grant & Sons.

Auchentoshan Distillery – Nhà chưng cất whisky Lowland hơn 200 năm bên Glasgow, Scotland
Auchentoshan Distillery là nhà chưng cất Scotch whisky nằm tại Clydebank, ở phía tây bắc Glasgow, Scotland. Nhà chưng cất có lịch sử chính thức từ năm 1823 và ngày nay được biết đến đặc biệt với phương pháp chưng cất ba lần – Triple Distillation, tạo nên phong cách nhẹ, tươi và mềm mại đặc trưng của Auchentoshan Single Malt Scotch Whisky.

Một chuyến biển không kết thúc khi ghe trở về bờ. Cá được gỡ khỏi lưới, phân loại và đưa đi tiêu thụ; phần khác tiếp tục bước vào một vòng đời mới qua bàn tay của những người ở lại trên đất liền. Cá được xẻ, ướp rồi phơi dưới nắng. Những mẻ cá khác được trộn với muối và đưa vào thùng ủ để sau nhiều tháng trở thành nước mắm. Từ nhu cầu bảo quản sản vật của biển, người Phước Hải đã hình thành những nghề chế biến gắn với làng cá qua nhiều thế hệ. Nước mắm và hải sản khô vì thế không chỉ là món quà người ta mua khi đến Phước Hải. Đằng sau chúng là một phần lịch sử sinh kế của cộng đồng sống bên biển.

Rời vùng làng biển Phước Hải tiếp tục theo dải ven biển về phía đông, cảnh quan dần thay đổi. Minh Đạm lùi lại phía sau, đường bờ mở rộng hơn và vùng đất phía trước tiến dần về hệ thống sông Ray. Ở cuối hành trình là Lộc An – một địa danh từng là xã ven biển độc lập, có cửa sông đổ ra Biển Đông và gắn với một bến quan trọng của Đường Hồ Chí Minh trên biển. Điều đặc biệt là sau những lần sắp xếp hành chính năm 2025, cả điểm xuất phát Phước Hải lẫn vùng Lộc An cũ ngày nay đều nằm trong cùng xã Phước Hải, Thành phố Hồ Chí Minh.

Từ Long Hải đi về phía đông, quãng đường sang Phước Hải không dài nhưng cảnh quan thay đổi khá rõ. Bãi biển dần khép lại khi núi tiến sát mặt nước, Mũi Kỳ Vân nhô ra phía biển và con đường phải uốn theo chân núi qua Đèo Nước Ngọt. Qua khỏi đoạn địa hình ấy, không gian lại mở ra với biển Phước Hải và một làng cá lâu đời dưới chân Minh Đạm. Vì vậy, hành trình Long Hải – Phước Hải không chỉ nối hai địa danh gần nhau; nó đi xuyên qua một đoạn bờ nơi núi, biển, đường sá và cộng đồng cư dân cùng tạo nên hình dáng của vùng đất.

Mỗi năm vào tháng Hai âm lịch, nhịp sống của làng biển Phước Hải có những ngày khác thường. Chiếc lưới vốn theo ngư dân ra biển bước vào những cuộc thi đan lưới, cột lưới; hình ảnh tôm cá xuất hiện trong đoàn diễn hành; còn những người cao niên của làng thực hiện nghi thức ra biển nghinh đón Ông Nam Hải về Dinh. Đó là Lễ hội Nghinh Ông Nam Hải – mùa lễ hình thành từ tín ngưỡng cá Ông, nhưng phía sau nghi lễ còn là câu chuyện về nghề biển, tiền hiền, cộng đồng và cách một làng cá gìn giữ ký ức của mình qua nhiều thế hệ.

Ở một làng biển, niềm tin thường bắt đầu từ những điều rất gần với đời sống. Với ngư dân Phước Hải, biển mang lại nguồn sống nhưng cũng là nơi con người phải đối diện với sóng gió và những bất trắc ngoài khơi. Từ trải nghiệm ấy, cá voi được kính gọi là cá Ông, được xem như vị thần hộ mệnh của người đi biển. Dinh Ông Nam Hải là một trong những nơi cộng đồng gửi gắm niềm tin đó, đồng thời là mắt xích quan trọng trong không gian tín ngưỡng nối Dinh Ông, Ngọc Lăng và Lễ hội Nghinh Ông của làng biển Phước Hải.

Trước khi có tên Phước Hải, vùng làng biển dưới chân Minh Đạm từng được biết đến với một cái tên rất gần với nghề nghiệp của cư dân: Lưới Rê. Từ một xóm chài hình thành bên biển, tên Lưới Rê đi qua lớp tên Hải Chữ rồi bước vào Phước Hải thôn vào đầu thế kỷ XIX. Những tên gọi ấy không chỉ cho biết một địa danh đã thay đổi như thế nào. Chúng còn lưu lại dấu vết về quá trình tụ cư, sinh kế và cách một cộng đồng nghề biển từng bước tạo dựng vùng đất mà ngày nay chúng ta gọi là Phước Hải.

Khi trời còn sớm, bờ biển Phước Hải đã bắt đầu một nhịp sống khác với hình ảnh của một vùng nghỉ dưỡng. Ghe thuyền trở về, cá được đưa lên bờ, lưới được gỡ, hải sản được phân loại trước khi đi vào chợ, các cơ sở chế biến hoặc những sân phơi. Nhịp sống ấy đã tồn tại qua nhiều thế hệ và tạo nên Làng chài Phước Hải – một cộng đồng ven biển dưới chân Minh Đạm, nơi lịch sử của vùng đất gắn chặt với nghề đánh bắt, chế biến hải sản và những tín ngưỡng hình thành từ cuộc sống ngoài khơi.

Từ Đèo Nước Ngọt đi về phía đông, đường bờ mở ra sau đoạn núi tiến sát mặt nước ở Kỳ Vân. Phía trước là biển, phía sau vẫn còn đường nền của hệ núi Minh Đạm, còn ở khoảng giữa là một cộng đồng đã sống bằng nghề biển qua nhiều thế hệ. Bãi biển Phước Hải nằm trong chính không gian ấy. Vì vậy, đây không chỉ là một bãi tắm trên tuyến ven biển, mà còn là nơi cảnh quan tự nhiên và đời sống của làng cá Phước Hải gặp nhau mỗi ngày.

Phước Hải nằm ở nơi dãy Minh Đạm dần hạ xuống phía biển, mở ra một vùng cư trú đã gắn với nghề đánh bắt qua nhiều thế hệ. Trước khi những khu nghỉ dưỡng và tuyến đường ven biển làm thay đổi diện mạo vùng đất, nơi đây đã là một làng cá lâu đời với những lớp tên Lưới Rê, Hải Chữ rồi Phước Hải. Biển tạo nên sinh kế, còn từ chính đời sống trên biển đã hình thành nghề chế biến hải sản, tục thờ cá Ông, Lễ hội Nghinh Ông và một hệ thống ký ức cộng đồng vẫn còn hiện diện đến ngày nay.