Đang tải bài viết…
Đang tải bài viết…
Ở cuối dòng Trà Khúc, trước khi con sông lớn nhất Quảng Ngãi hòa mình vào biển qua Cửa Đại, cảnh quan hai bên bờ đã thay đổi khá nhiều trong những năm gần đây. Cầu Cổ Lũy vươn qua mặt sông, phía núi Thiên Mã là quần thể chùa Minh Đức đang dần hoàn thiện. Một công trình giao thông và một không gian văn hóa tâm linh, đặt cạnh nhau giữa sông, núi và biển, đang tạo nên một hình ảnh mới của vùng đất Quảng Ngãi.
Sông Trà Khúc đi qua nhiều vùng đất trước khi mở rộng ở hạ lưu rồi đổ ra biển tại Cửa Đại. Trong ký ức của cư dân nơi đây, vùng cửa sông từng gắn với những chuyến đò, làng chài và cuộc sống mưu sinh theo con nước. Hai bờ sông gần nhau nhưng việc đi lại từng phải vòng khá xa.
Cũng chính ở khu vực này, Quảng Ngãi những năm gần đây mở rộng không gian đô thị về phía đông. Những tuyến đường Hoàng Sa, Trường Sa và đường ven biển dần hình thành, đưa thành phố gần hơn với Mỹ Khê, Cửa Đại và dải bờ biển phía đông.
Cầu Cổ Lũy xuất hiện trong bối cảnh ấy.
Dự án ban đầu mang tên cầu Cửa Đại, được khởi công ngày 18/12/2017. Đến năm 2020, tỉnh Quảng Ngãi quyết định sử dụng tên Cổ Lũy cho công trình.
Tên gọi này gắn với địa danh Cổ Lũy ở vùng cửa sông, đồng thời giúp phân biệt với cầu Cửa Đại tại Quảng Nam.
Ngày 20/10/2020, cầu Cổ Lũy được thông xe kỹ thuật. Từ đó, một tuyến kết nối mới chính thức hình thành giữa hai bờ hạ lưu sông Trà Khúc.
Toàn bộ dự án cầu và đường dẫn dài khoảng 3,7 km, trong đó phần cầu dài 1.876,8 m. Công trình có 37 nhịp, đoạn dây văng gồm 5 tháp và 6 nhịp; tổng mức đầu tư khoảng 2.250 tỷ đồng.
Đầu phía bắc kết nối với đường Hoàng Sa tại khu vực Tịnh Khê, còn đầu phía nam nối với đường Trường Sa tại khu vực Nghĩa Phú. Cầu trở thành mắt xích quan trọng của hệ thống giao thông hướng ra biển của Quảng Ngãi.
Đây cũng là cầu dây văng đầu tiên của tỉnh Quảng Ngãi. Nhưng giá trị của Cổ Lũy không chỉ nằm ở quy mô hay kỹ thuật xây dựng.
Trước khi có Cổ Lũy, việc đi lại giữa Tịnh Khê và Nghĩa Phú chịu nhiều cách trở bởi sông nước. Người dân hai bên bờ từng quen với đò ngang hoặc phải đi vòng qua những cây cầu phía thượng lưu.
Khi Cổ Lũy được đưa vào sử dụng, quãng đường kết nối hai khu vực được rút ngắn đáng kể. Những làng nằm hai bên cửa sông từ chỗ bị chia cách bởi dòng Trà Khúc bắt đầu được nối trực tiếp bằng đường bộ.
Một cây cầu vì thế có thể làm thay đổi cả cách con người nhìn về khoảng cách. Nơi từng là cuối đường ở một bờ sông lại trở thành điểm nối sang một vùng đất khác.
Cổ Lũy có một vị trí khá đặc biệt về cảnh quan. Nhìn về phía đông là Cửa Đại và biển; nhìn về phía tây là mặt sông Trà Khúc mở rộng. Ở bờ bắc, núi Thiên Mã nổi lên giữa vùng hạ lưu.
Thiên Mã không phải ngọn núi quá cao, nhưng vị trí nằm sát cửa sông khiến nơi đây có tầm nhìn rộng. Từ trên núi có thể quan sát dòng Trà Khúc, cầu Cổ Lũy, những vùng dân cư hai bên bờ và xa hơn là biển Đông.
Trên chính ngọn núi này, một quần thể văn hóa tâm linh mới đang hình thành: Chùa Minh Đức và Khu văn hóa Thiên Mã.
Trong cách gọi quen thuộc của người Quảng Ngãi, Thiên Mã thường được đặt cùng Thiên Ấn và Thiên Bút, tạo thành ba địa danh mang chữ “Thiên” gắn với cảnh quan quanh vùng thành phố.
Thiên Ấn đã trở thành biểu tượng lâu đời của Quảng Ngãi với chùa Thiên Ấn trên núi. Thiên Bút nằm gần trung tâm đô thị. Còn Thiên Mã ở phía hạ lưu sông Trà Khúc, gần Cửa Đại.
Trong nhiều năm, Thiên Mã ít được biết đến hơn hai địa danh còn lại. Việc xây dựng Chùa Minh Đức và Khu văn hóa Thiên Mã đang đưa ngọn núi này trở thành một điểm nhấn mới trong không gian phía đông Quảng Ngãi.
Chùa Minh Đức nằm trong Khu văn hóa Thiên Mã, một dự án có quy mô hơn 90 ha, trải trên khu vực núi Thiên Mã và vùng phụ cận.
Dự án được hình thành với nhiều hạng mục như Chùa Minh Đức, quảng trường, bảo tháp, bảo tàng Phật giáo, Long Hoa Viên, vườn Bạch Mã, thiền đường, phương y đường và các không gian cảnh quan khác.
Người sáng lập gắn với dự án là Hòa thượng Thích Tâm Vị, một người con quê Quảng Ngãi và cũng là vị tu hành có nhiều năm hoạt động tại Lâm Đồng. Ông được biết đến qua các công trình Phật giáo như chùa Linh Phước và chùa Linh Ẩn.
Từ vùng đất quê hương bên sông Trà Khúc, ý tưởng về một quần thể văn hóa Phật giáo quy mô lớn trên núi Thiên Mã dần được triển khai.
Chùa Minh Đức là công trình mới, vì vậy cần phân biệt với những ngôi cổ tự có lịch sử hàng trăm năm tại Quảng Ngãi.
Các thủ tục đất đai cho Chùa Minh Đức và Khu văn hóa Thiên Mã được tỉnh triển khai từ năm 2018; công trình bước vào giai đoạn xây dựng lớn trong những năm tiếp theo. Đến nay, nhiều hạng mục đã hình thành và khu vực đã đón người dân, Phật tử đến chiêm bái, vãn cảnh, trong khi toàn bộ quần thể vẫn tiếp tục được hoàn thiện.
Điều đáng chú ý ở Minh Đức không nằm ở chiều sâu lịch sử của một ngôi chùa cổ, mà ở quy mô và vị trí của một quần thể tâm linh mới giữa vùng cửa sông Trà Khúc.
Một trong những hạng mục nổi bật nhất của quần thể là tôn tượng Bồ-tát Quán Thế Âm được thiết kế với chiều cao khoảng 125 m.
Tượng được bố trí trên núi Thiên Mã, hướng về không gian cửa biển. Khi hoàn thiện, đây sẽ là một trong những công trình tượng Phật có quy mô đặc biệt lớn tại Việt Nam.
Do công trình vẫn trong quá trình xây dựng, những thông tin về danh hiệu kỷ lục hay vị trí xếp hạng chiều cao cần được cập nhật theo thời điểm hoàn thành và công bố chính thức. Với Mapstore, giá trị đáng chú ý hơn là mối quan hệ giữa công trình với cảnh quan chung quanh: núi Thiên Mã phía sau, sông Trà Khúc phía trước và biển Đông ở xa.
Điều làm khu vực này trở nên khác biệt là hai công trình có thể nhìn thấy nhau khá rõ.
Từ cầu Cổ Lũy nhìn về bờ bắc là núi Thiên Mã và quần thể Chùa Minh Đức. Ngược lại, từ những vị trí cao trên núi có thể quan sát gần như toàn bộ cây cầu trải ngang mặt sông.
Một bên là công trình giao thông với những trụ dây văng. Một bên là không gian tâm linh trên sườn núi. Ở giữa là dòng Trà Khúc; phía trước là Cửa Đại và biển.
Không cần đứng riêng từng công trình, chính tổng thể ấy mới tạo nên cảnh quan đặc trưng của khu vực.
Nhắc đến Quảng Ngãi, nhiều người thường nhớ núi Ấn – sông Trà. Đó là hình ảnh đã đi cùng vùng đất này qua nhiều thế hệ.
Nhưng thành phố đang dần mở rộng về phía biển. Những con đường mới, cầu Cổ Lũy và không gian quanh Cửa Đại đang tạo thêm một hướng nhìn khác.
Nếu Thiên Ấn đứng bên sông Trà như một biểu tượng cũ của Quảng Ngãi, thì Thiên Mã – Minh Đức cùng cầu Cổ Lũy đang hình thành một lớp cảnh quan mới ở cuối dòng sông.
Cũ và mới không nhất thiết thay thế nhau. Chúng có thể cùng tồn tại trên một dòng chảy: phía thượng lưu là những địa danh đã đi vào ký ức, phía hạ lưu là những công trình của một thành phố đang hướng ra biển.
Cầu Cổ Lũy thay đổi giao thông, nhưng tác động lớn hơn là mở ra khả năng kết nối cả vùng hạ lưu. Hai tuyến Hoàng Sa và Trường Sa được nối lại, đường ven biển trở nên liền mạch hơn, còn những vùng đất quanh Cửa Đại có thêm điều kiện phát triển.
Trong không gian ấy, Chùa Minh Đức và núi Thiên Mã tạo thêm một điểm đến văn hóa tâm linh. Mỹ Khê mang giá trị biển, Cửa Đại là nơi sông gặp biển, còn các làng ven sông vẫn giữ lại những sinh hoạt gắn với nghề cá, cào don, nhũi hến và cuộc sống theo con nước.
Nếu nhìn riêng từng địa điểm, đó là cầu, chùa, núi, sông và biển. Nhưng đặt chúng cạnh nhau, đây lại là một vùng cảnh quan khá hoàn chỉnh.
Có lẽ cách thú vị để cảm nhận khu vực này là nhìn nó từ hai phía.
Đứng trên cầu Cổ Lũy, có thể nhìn về núi Thiên Mã và Chùa Minh Đức. Lên núi Thiên Mã, lại thấy cây cầu nằm ngang cuối dòng Trà Khúc. Nếu đi tiếp về phía biển là Cửa Đại và Mỹ Khê.
Những góc nhìn ấy cho thấy Quảng Ngãi không chỉ có những di sản đã tồn tại từ lâu. Một vùng đất cũng được tạo nên bởi những công trình mới, miễn là chúng dần trở thành một phần trong đời sống và ký ức của con người.
Cầu Cổ Lũy mới xuất hiện từ năm 2020. Chùa Minh Đức vẫn đang trong quá trình hoàn thiện. Cả hai đều còn rất trẻ so với lịch sử của sông Trà Khúc.
Nhưng ở nơi dòng sông chuẩn bị gặp biển, chúng đã bắt đầu tạo nên một hình ảnh khác của Quảng Ngãi hôm nay.
Tên: Cầu Cổ Lũy
Tên dự án ban đầu: Cầu Cửa Đại
Vị trí: Hạ lưu sông Trà Khúc, Quảng Ngãi
Khởi công: 18/12/2017
Thông xe kỹ thuật: 20/10/2020
Chiều dài toàn dự án: Khoảng 3,7 km
Chiều dài cầu: 1.876,8 m
Số nhịp: 37
Loại cầu: Cầu bê tông cốt thép dự ứng lực, có đoạn dây văng
Đặc điểm: Cầu dây văng đầu tiên của tỉnh Quảng Ngãi
Tổng mức đầu tư: Khoảng 2.250 tỷ đồng
Kết nối: Đường Hoàng Sa – đường Trường Sa
Tên: Chùa Minh Đức
Quần thể: Khu văn hóa Thiên Mã
Vị trí: Núi Thiên Mã, khu vực hạ lưu sông Trà Khúc, Quảng Ngãi
Quy mô dự án: Hơn 90 ha
Người sáng lập: Hòa thượng Thích Tâm Vị
Tính chất: Công trình văn hóa tâm linh Phật giáo
Các hạng mục chính: Chùa Minh Đức, quảng trường, tượng Phật, bảo tháp, bảo tàng Phật giáo, Long Hoa Viên, thiền đường và các khu cảnh quan
Điểm nhấn đang xây dựng: Tôn tượng Bồ-tát Quán Thế Âm cao khoảng 125 m
Tình trạng: Nhiều hạng mục đã hình thành, toàn quần thể tiếp tục được hoàn thiện

Công ty TNHH iWater
122/6 Đặng Văn Ngữ, Phường Phú Nhuận, Thành phố Hồ Chí Minh

Công ty TNHH Rượu 5 Châu (Topruou.com)
1368/79/1/3 Lê Văn Lương, Xã Nhà Bè, Thành phố Hồ Chí Minh

Vựa Cá Thạch Nguyệt – Cửa hàng cá tươi tại phường Thới An, TP.HCM
193 Tô Ngọc Vân, Phường Thới An, Thành phố Hồ Chí Minh

MazLaw – Tổ chức đại diện sở hữu trí tuệ tại Hà Nội
430 Đê La Thành, Phường Ô Chợ Dừa, Thành phố Hà Nội

Văn phòng Luật sư Đặng Đình Ngọc – 27 Lê Văn Lương, Hà Nội
27 Lê Văn Lương, Phường Thanh Xuân, Thành phố Hà Nội

Nước mắm và hải sản khô Phước Hải – nghề từ những chuyến biển
Một chuyến biển không kết thúc khi ghe trở về bờ. Cá được gỡ khỏi lưới, phân loại và đưa đi tiêu thụ; phần khác tiếp tục bước vào một vòng đời mới qua bàn tay của những người ở lại trên đất liền. Cá được xẻ, ướp rồi phơi dưới nắng. Những mẻ cá khác được trộn với muối và đưa vào thùng ủ để sau nhiều tháng trở thành nước mắm. Từ nhu cầu bảo quản sản vật của biển, người Phước Hải đã hình thành những nghề chế biến gắn với làng cá qua nhiều thế hệ. Nước mắm và hải sản khô vì thế không chỉ là món quà người ta mua khi đến Phước Hải. Đằng sau chúng là một phần lịch sử sinh kế của cộng đồng sống bên biển.

Phước Hải đến Lộc An – hành trình tiếp tục về phía đông
Rời vùng làng biển Phước Hải tiếp tục theo dải ven biển về phía đông, cảnh quan dần thay đổi. Minh Đạm lùi lại phía sau, đường bờ mở rộng hơn và vùng đất phía trước tiến dần về hệ thống sông Ray. Ở cuối hành trình là Lộc An – một địa danh từng là xã ven biển độc lập, có cửa sông đổ ra Biển Đông và gắn với một bến quan trọng của Đường Hồ Chí Minh trên biển. Điều đặc biệt là sau những lần sắp xếp hành chính năm 2025, cả điểm xuất phát Phước Hải lẫn vùng Lộc An cũ ngày nay đều nằm trong cùng xã Phước Hải, Thành phố Hồ Chí Minh.

Long Hải đến Phước Hải – qua Kỳ Vân và Đèo Nước Ngọt
Từ Long Hải đi về phía đông, quãng đường sang Phước Hải không dài nhưng cảnh quan thay đổi khá rõ. Bãi biển dần khép lại khi núi tiến sát mặt nước, Mũi Kỳ Vân nhô ra phía biển và con đường phải uốn theo chân núi qua Đèo Nước Ngọt. Qua khỏi đoạn địa hình ấy, không gian lại mở ra với biển Phước Hải và một làng cá lâu đời dưới chân Minh Đạm. Vì vậy, hành trình Long Hải – Phước Hải không chỉ nối hai địa danh gần nhau; nó đi xuyên qua một đoạn bờ nơi núi, biển, đường sá và cộng đồng cư dân cùng tạo nên hình dáng của vùng đất.

Lễ hội Nghinh Ông Nam Hải – mùa lễ của ngư dân Phước Hải
Mỗi năm vào tháng Hai âm lịch, nhịp sống của làng biển Phước Hải có những ngày khác thường. Chiếc lưới vốn theo ngư dân ra biển bước vào những cuộc thi đan lưới, cột lưới; hình ảnh tôm cá xuất hiện trong đoàn diễn hành; còn những người cao niên của làng thực hiện nghi thức ra biển nghinh đón Ông Nam Hải về Dinh. Đó là Lễ hội Nghinh Ông Nam Hải – mùa lễ hình thành từ tín ngưỡng cá Ông, nhưng phía sau nghi lễ còn là câu chuyện về nghề biển, tiền hiền, cộng đồng và cách một làng cá gìn giữ ký ức của mình qua nhiều thế hệ.

Ngọc Lăng Nam Hải – nơi cá Ông được an táng bên biển Phước Hải
Sát bờ biển Phước Hải có một không gian rất khác với những bãi cát, ghe thuyền và khu dân cư thường thấy của một làng chài. Dưới những hàng dương là những ngôi mộ có bia ghi “Nam Hải chi mộ” – nơi người dân an táng những cá voi được kính gọi là cá Ông khi chúng lụy vào vùng biển này. Đó là Ngọc Lăng Nam Hải, một không gian tín ngưỡng đặc biệt được hình thành từ chính mối quan hệ lâu đời giữa cộng đồng ngư dân Phước Hải với biển.

Aultmore Distillery – Nhà chưng cất whisky giữa vùng Foggie Moss, Speyside, Scotland
Aultmore Distillery là nhà chưng cất Scotch whisky nằm gần thị trấn Keith, thuộc vùng Speyside của Scotland. Được Alexander Edward thành lập và bắt đầu sản xuất năm 1897, Aultmore đã tồn tại hơn 125 năm giữa một khu vực từ lâu gắn với nghề chưng cất whisky.

The Glenrothes Distillery – Nhà chưng cất Speyside từ năm 1879 tại Rothes, Scotland
The Glenrothes Distillery là nhà chưng cất Single Malt Scotch Whisky nằm tại Rothes, Moray, Scotland, ngay trung tâm vùng whisky Speyside. Được thành lập năm 1879, nhà chưng cất trải qua gần 150 năm phát triển và ngày nay là một trong những tên tuổi lâu đời gắn với thị trấn Rothes.

Stirling Distillery – Khi whisky trở lại dưới chân lâu đài Stirling sau hơn 170 năm
Ngay dưới chân Stirling Castle, giữa khu phố cổ mang đậm dấu ấn lịch sử Scotland, một nhà chưng cất nhỏ đang viết tiếp câu chuyện từng bị gián đoạn hơn một thế kỷ. Stirling Distillery không có quy mô lớn, nhưng vị trí, lịch sử và hành trình đưa whisky trở lại thành phố Stirling khiến nơi đây trở thành một điểm đáng chú ý trên bản đồ whisky Scotland.

Kininvie Distillery – Nhà chưng cất Speyside kín tiếng của William Grant & Sons
Kininvie Distillery là nhà chưng cất Single Malt Scotch Whisky nằm tại Dufftown, Moray, Scotland, thuộc vùng whisky Speyside. Được William Grant & Sons xây dựng năm 1990, Kininvie có vị trí đặc biệt khi nằm ngay trong khu vực của The Balvenie Distillery và gần Glenfiddich – hai nhà chưng cất nổi tiếng cùng thuộc tập đoàn gia đình William Grant & Sons.

Auchentoshan Distillery – Nhà chưng cất whisky Lowland hơn 200 năm bên Glasgow, Scotland
Auchentoshan Distillery là nhà chưng cất Scotch whisky nằm tại Clydebank, ở phía tây bắc Glasgow, Scotland. Nhà chưng cất có lịch sử chính thức từ năm 1823 và ngày nay được biết đến đặc biệt với phương pháp chưng cất ba lần – Triple Distillation, tạo nên phong cách nhẹ, tươi và mềm mại đặc trưng của Auchentoshan Single Malt Scotch Whisky.

Một chuyến biển không kết thúc khi ghe trở về bờ. Cá được gỡ khỏi lưới, phân loại và đưa đi tiêu thụ; phần khác tiếp tục bước vào một vòng đời mới qua bàn tay của những người ở lại trên đất liền. Cá được xẻ, ướp rồi phơi dưới nắng. Những mẻ cá khác được trộn với muối và đưa vào thùng ủ để sau nhiều tháng trở thành nước mắm. Từ nhu cầu bảo quản sản vật của biển, người Phước Hải đã hình thành những nghề chế biến gắn với làng cá qua nhiều thế hệ. Nước mắm và hải sản khô vì thế không chỉ là món quà người ta mua khi đến Phước Hải. Đằng sau chúng là một phần lịch sử sinh kế của cộng đồng sống bên biển.

Rời vùng làng biển Phước Hải tiếp tục theo dải ven biển về phía đông, cảnh quan dần thay đổi. Minh Đạm lùi lại phía sau, đường bờ mở rộng hơn và vùng đất phía trước tiến dần về hệ thống sông Ray. Ở cuối hành trình là Lộc An – một địa danh từng là xã ven biển độc lập, có cửa sông đổ ra Biển Đông và gắn với một bến quan trọng của Đường Hồ Chí Minh trên biển. Điều đặc biệt là sau những lần sắp xếp hành chính năm 2025, cả điểm xuất phát Phước Hải lẫn vùng Lộc An cũ ngày nay đều nằm trong cùng xã Phước Hải, Thành phố Hồ Chí Minh.

Từ Long Hải đi về phía đông, quãng đường sang Phước Hải không dài nhưng cảnh quan thay đổi khá rõ. Bãi biển dần khép lại khi núi tiến sát mặt nước, Mũi Kỳ Vân nhô ra phía biển và con đường phải uốn theo chân núi qua Đèo Nước Ngọt. Qua khỏi đoạn địa hình ấy, không gian lại mở ra với biển Phước Hải và một làng cá lâu đời dưới chân Minh Đạm. Vì vậy, hành trình Long Hải – Phước Hải không chỉ nối hai địa danh gần nhau; nó đi xuyên qua một đoạn bờ nơi núi, biển, đường sá và cộng đồng cư dân cùng tạo nên hình dáng của vùng đất.

Mỗi năm vào tháng Hai âm lịch, nhịp sống của làng biển Phước Hải có những ngày khác thường. Chiếc lưới vốn theo ngư dân ra biển bước vào những cuộc thi đan lưới, cột lưới; hình ảnh tôm cá xuất hiện trong đoàn diễn hành; còn những người cao niên của làng thực hiện nghi thức ra biển nghinh đón Ông Nam Hải về Dinh. Đó là Lễ hội Nghinh Ông Nam Hải – mùa lễ hình thành từ tín ngưỡng cá Ông, nhưng phía sau nghi lễ còn là câu chuyện về nghề biển, tiền hiền, cộng đồng và cách một làng cá gìn giữ ký ức của mình qua nhiều thế hệ.

Sát bờ biển Phước Hải có một không gian rất khác với những bãi cát, ghe thuyền và khu dân cư thường thấy của một làng chài. Dưới những hàng dương là những ngôi mộ có bia ghi “Nam Hải chi mộ” – nơi người dân an táng những cá voi được kính gọi là cá Ông khi chúng lụy vào vùng biển này. Đó là Ngọc Lăng Nam Hải, một không gian tín ngưỡng đặc biệt được hình thành từ chính mối quan hệ lâu đời giữa cộng đồng ngư dân Phước Hải với biển.

Ở một làng biển, niềm tin thường bắt đầu từ những điều rất gần với đời sống. Với ngư dân Phước Hải, biển mang lại nguồn sống nhưng cũng là nơi con người phải đối diện với sóng gió và những bất trắc ngoài khơi. Từ trải nghiệm ấy, cá voi được kính gọi là cá Ông, được xem như vị thần hộ mệnh của người đi biển. Dinh Ông Nam Hải là một trong những nơi cộng đồng gửi gắm niềm tin đó, đồng thời là mắt xích quan trọng trong không gian tín ngưỡng nối Dinh Ông, Ngọc Lăng và Lễ hội Nghinh Ông của làng biển Phước Hải.

Trước khi có tên Phước Hải, vùng làng biển dưới chân Minh Đạm từng được biết đến với một cái tên rất gần với nghề nghiệp của cư dân: Lưới Rê. Từ một xóm chài hình thành bên biển, tên Lưới Rê đi qua lớp tên Hải Chữ rồi bước vào Phước Hải thôn vào đầu thế kỷ XIX. Những tên gọi ấy không chỉ cho biết một địa danh đã thay đổi như thế nào. Chúng còn lưu lại dấu vết về quá trình tụ cư, sinh kế và cách một cộng đồng nghề biển từng bước tạo dựng vùng đất mà ngày nay chúng ta gọi là Phước Hải.

Khi trời còn sớm, bờ biển Phước Hải đã bắt đầu một nhịp sống khác với hình ảnh của một vùng nghỉ dưỡng. Ghe thuyền trở về, cá được đưa lên bờ, lưới được gỡ, hải sản được phân loại trước khi đi vào chợ, các cơ sở chế biến hoặc những sân phơi. Nhịp sống ấy đã tồn tại qua nhiều thế hệ và tạo nên Làng chài Phước Hải – một cộng đồng ven biển dưới chân Minh Đạm, nơi lịch sử của vùng đất gắn chặt với nghề đánh bắt, chế biến hải sản và những tín ngưỡng hình thành từ cuộc sống ngoài khơi.

Từ Đèo Nước Ngọt đi về phía đông, đường bờ mở ra sau đoạn núi tiến sát mặt nước ở Kỳ Vân. Phía trước là biển, phía sau vẫn còn đường nền của hệ núi Minh Đạm, còn ở khoảng giữa là một cộng đồng đã sống bằng nghề biển qua nhiều thế hệ. Bãi biển Phước Hải nằm trong chính không gian ấy. Vì vậy, đây không chỉ là một bãi tắm trên tuyến ven biển, mà còn là nơi cảnh quan tự nhiên và đời sống của làng cá Phước Hải gặp nhau mỗi ngày.