Đang tải bài viết…
Đang tải bài viết…
Ở đầu Bãi Trước, nơi chân Núi Nhỏ gặp mặt biển, tên Cầu Đá lưu lại một lớp lịch sử khác của Vũng Tàu. Nơi đây từng gắn với công trình tiền cảng được xây dựng cuối thế kỷ XIX, trong khi trên sườn núi phía sau là một trận địa gồm bốn khẩu pháo hướng ra biển. Bến nước và trận địa quân sự nằm gần nhau, cùng cho thấy Vũng Tàu từng được nhìn không chỉ như một vùng nghỉ dưỡng mà còn là cửa biển có ý nghĩa về hàng hải và phòng thủ.
Cầu Đá nằm ở khu vực phía nam Bãi Trước, gần chân phía bắc Núi Nhỏ. Đây là một vị trí đặc biệt trong địa hình Vũng Tàu: một phía là sườn núi, phía còn lại mở ra vùng nước Bãi Trước và xa hơn là Gành Rái.
Ngày nay, tên Cầu Đá vẫn hiện diện trong không gian ven biển và gắn với khu vực cảng, bến tàu trên đường Hạ Long. Nhưng phía sau tên gọi ấy là câu chuyện hình thành từ hơn một thế kỷ trước.
Cuối thế kỷ XIX, người Pháp từng xây dựng tại đây một công trình tiền cảng hướng ra Bãi Trước. Một đê đá – bê tông được đưa từ bờ ra biển với mục đích tạo nơi phục vụ tàu thuyền và hoạt động của cảng.
Công trình ấy về sau không phát huy được vai trò như dự tính. Những tác động của dòng nước, phù sa và điều kiện tự nhiên khiến tiền cảng dần mất chức năng. Dấu tích đê đá còn lại bên Bãi Trước tiếp tục được người dân gọi bằng cái tên Cầu Đá.
Một công trình từng được xây để đưa hoạt động của con người từ đất liền tiến ra biển cuối cùng lại trở thành một phần tên đất của Vũng Tàu.
Không xa dấu tích tiền cảng, ở sườn phía bắc Núi Nhỏ còn có một công trình khác cũng hình thành vào cuối thế kỷ XIX: Trận địa pháo Cầu Đá.
Trận địa nằm ở độ cao khoảng 15 m so với mực nước biển. Hệ thống gồm bốn khẩu pháo được bố trí theo hình vòng cung, khoảng cách giữa các khẩu khoảng 18 m, nòng pháo hướng về phía biển.
Vị trí thấp hơn nhiều so với các trận địa trên Núi Lớn và phần cao của Núi Nhỏ, nhưng Cầu Đá lại nằm sát vùng nước Bãi Trước.
Điều đó cho thấy mỗi trận địa trong hệ thống phòng thủ Vũng Tàu được bố trí theo một vai trò địa hình khác nhau. Những điểm cao trên hai ngọn núi tạo tầm quan sát xa, còn Cầu Đá nằm gần mặt biển và trực tiếp hướng ra vùng nước phía trước.
Bốn khẩu pháo vì thế không nên được nhìn như những hiện vật quân sự riêng lẻ. Chúng là phần còn lại của một cách tổ chức phòng thủ dựa rất nhiều vào hình dáng tự nhiên của Vũng Tàu.
Đặt Cầu Đá cạnh hai trận địa trên Núi Lớn và Núi Nhỏ sẽ thấy rõ hơn quy mô của hệ thống phòng thủ từng tồn tại tại Vũng Tàu.
Đến đầu thế kỷ XX, ba khu vực trận địa lớn gồm Núi Lớn, núi Tao Phùng – Núi Nhỏ và Cầu Đá tạo thành một phòng tuyến với tổng cộng 23 khẩu trọng pháo. Các vị trí được phân bố quanh vùng đất hướng ra biển, tận dụng hai ngọn núi và đường bờ để kiểm soát những hướng tiếp cận khác nhau.
Cầu Đá nằm ở một vị trí đáng chú ý trong mạng lưới ấy.
Phía sau là Núi Nhỏ. Phía trước là Bãi Trước. Từ vùng nước này có thể mở sang Gành Rái và các tuyến hàng hải dẫn về phía cửa Cần Giờ.
Cũng chính tại đây từng có công trình tiền cảng phục vụ tàu thuyền.
Bến biển và trận địa pháo vì thế phản ánh hai chức năng khác nhau nhưng cùng bắt nguồn từ một điều kiện địa lý: vị trí của Vũng Tàu tại nơi đất liền tiếp cận một vùng biển và cửa vịnh quan trọng.
Khác với những khẩu pháo trên các vị trí cao của Núi Lớn và Núi Nhỏ, dấu tích Trận địa pháo Cầu Đá nằm giữa khu vực đô thị phát triển dày đặc.
Qua nhiều thập niên, nhà cửa và các công trình dân dụng đã tiến sát khu vực di tích. Nhiều tư liệu qua các thời kỳ ghi nhận các khẩu pháo bị bao quanh, che khuất hoặc chịu tác động bởi quá trình đô thị hóa.
Điều đó tạo cho Cầu Đá một câu chuyện khác với hai trận địa trên núi.
Ở đây, lịch sử không nằm tách biệt trên một sườn núi cao mà bị thành phố phát triển bao quanh. Một công trình quân sự từng hướng nòng pháo ra vùng nước trống trải ngày nào giờ nằm giữa không gian đô thị ven biển.
Trận địa pháo Cầu Đá hiện nằm trong danh mục di tích quốc gia.
Nhưng để hiểu địa danh Cầu Đá, chỉ nhìn những khẩu pháo vẫn chưa đủ.
Phía trước chúng từng có một tiền cảng vươn ra Bãi Trước. Phía sau là Núi Nhỏ với những trận địa ở cao hơn. Xa hơn nữa là Gành Rái và vùng cửa biển.
Khi đặt những dấu tích ấy trở lại đúng vị trí của mình, Cầu Đá kể được một phần lịch sử ít nhìn thấy của Vũng Tàu: một nơi mà bờ biển từng đồng thời là bến tàu, cửa ngõ hàng hải và tuyến phòng thủ hướng ra biển.

Chành xe Tô Châu – 460 Lê Hồng Phong
460 Lê Hồng Phong, Phường Vườn Lài, Thành phố Hồ Chí Minh

Chành xe Tô Châu – Thủ Đức
177 Đỗ Mười (QL1A), Phường Tam Bình, Thành phố Hồ Chí Minh

Chành xe Tô Châu – Cầu Vàm Cống
477 QL91, Khu Vực Thới Hòa 1, Phường Thốt Nốt, Thành phố Cần Thơ

Giáo xứ Hải Dương – Giáo hạt Hải Dương, Giáo phận Hải Phòng
100 Trần Hưng Đạo, Phường Lê Thanh Nghị, Thành phố Hải Phòng

Giáo xứ Hàng Kênh, Giáo hạt Chính Tòa, Giáo Phận Hải Phòng
116 Lạch Tray, Phường Lê Chân, Thành phố Hải Phòng

Giáo xứ Hải Dương – Giáo hạt Hải Dương, Giáo phận Hải Phòng
Nằm tại số 100 Trần Hưng Đạo, Giáo xứ Hải Dương thuộc Giáo hạt Hải Dương, Giáo phận Hải Phòng là một cộng đoàn Công giáo lâu đời giữa vùng đất Hải Dương. Ngôi nhà thờ được ghi nhận xây dựng từ năm 1875, hiện diện giữa khu vực trung tâm đô thị và gắn với một vùng đất có vị trí đặc biệt trong lịch sử Công giáo miền Đông Bắc. Không xa nhà thờ là Đền Thánh Tử Đạo Hải Dương, nơi lưu dấu cuộc tử đạo năm 1861 của các chứng nhân đức tin sau này được Giáo hội tuyên phong hiển thánh.

Giáo xứ Hàng Kênh – Giáo hạt Chính Tòa, Giáo phận Hải Phòng
Giữa khu vực nội thành Hải Phòng, trên trục đường Lạch Tray đông đúc, Giáo xứ Hàng Kênh thuộc Giáo hạt Chính Tòa, Giáo phận Hải Phòng là một cộng đoàn Công giáo có lịch sử hơn một thế kỷ. Hàng Kênh được thành lập với tư cách giáo họ từ năm 1893, từng trực thuộc Giáo xứ Nam Pháp trước khi chính thức được nâng lên hàng giáo xứ năm 2020. Từ một giáo họ lâu đời giữa lòng thành phố, Hàng Kênh ngày nay vừa phục vụ cộng đoàn địa phương, vừa trở thành điểm quy tụ của nhiều người Công giáo từ các nơi đến Hải Phòng sinh sống và làm việc.

Giáo xứ Truyền Tin – Giáo hạt Tân Thạnh, Giáo phận Long Xuyên
Giữa vùng đồng bằng được nhận diện bằng những con kinh mang số, Giáo xứ Truyền Tin nằm bên Kinh 8A, thuộc Giáo hạt Tân Thạnh, Giáo phận Long Xuyên. Trước đây, địa chỉ quen thuộc của nhà thờ là Thạnh Đông A, huyện Tân Hiệp, tỉnh Kiên Giang; sau thay đổi địa giới hành chính, khu vực này thuộc xã Thạnh Đông, tỉnh An Giang. Tên gọi Kinh 8A vẫn còn đó, gắn nhà thờ với một không gian rất đặc trưng của miền Tây: những con kinh thẳng dài, ruộng lúa và các xóm dân cư hình thành dọc hai bên bờ nước.

Đỉnh Tầm Bồ – điểm cao giữa rừng Bình Châu – Phước Bửu
Giữa một vùng ven biển vốn được hình dung bằng những bãi cát thấp và Biển Đông, Khu bảo tồn thiên nhiên Bình Châu – Phước Bửu còn có những điểm địa hình cao hơn nằm trong rừng. Tầm Bồ là một trong số đó. Với độ cao khoảng 114 m, nơi đây không phải một ngọn núi lớn, nhưng đủ để mở ra một góc nhìn khác về vùng đất: từ rừng nhìn về phía dải biển Hồ Cốc – Hồ Tràm.Câu chuyện của Tầm Bồ vì thế không nằm ở độ cao. Điều đáng chú ý là vị trí của một điểm cao giữa khu rừng tự nhiên nằm rất gần biển.

Cửa Bình Châu – nơi làng biển mở ra Biển Đông
Ở phía biển của Bình Châu có một khoảng cửa nước nối không gian phía trong với Biển Đông. Trên bản đồ địa danh biển Việt Nam, nơi này mang tên Cửa Bình Châu. Gần đó là Đầm Bình Châu, cảng cá, khu neo đậu tàu thuyền và những công trình phục vụ hoạt động nghề biển.

Aultmore Distillery – Nhà chưng cất whisky giữa vùng Foggie Moss, Speyside, Scotland
Aultmore Distillery là nhà chưng cất Scotch whisky nằm gần thị trấn Keith, thuộc vùng Speyside của Scotland. Được Alexander Edward thành lập và bắt đầu sản xuất năm 1897, Aultmore đã tồn tại hơn 125 năm giữa một khu vực từ lâu gắn với nghề chưng cất whisky.

The Glenrothes Distillery – Nhà chưng cất Speyside từ năm 1879 tại Rothes, Scotland
The Glenrothes Distillery là nhà chưng cất Single Malt Scotch Whisky nằm tại Rothes, Moray, Scotland, ngay trung tâm vùng whisky Speyside. Được thành lập năm 1879, nhà chưng cất trải qua gần 150 năm phát triển và ngày nay là một trong những tên tuổi lâu đời gắn với thị trấn Rothes.

Stirling Distillery – Khi whisky trở lại dưới chân lâu đài Stirling sau hơn 170 năm
Ngay dưới chân Stirling Castle, giữa khu phố cổ mang đậm dấu ấn lịch sử Scotland, một nhà chưng cất nhỏ đang viết tiếp câu chuyện từng bị gián đoạn hơn một thế kỷ. Stirling Distillery không có quy mô lớn, nhưng vị trí, lịch sử và hành trình đưa whisky trở lại thành phố Stirling khiến nơi đây trở thành một điểm đáng chú ý trên bản đồ whisky Scotland.

Kininvie Distillery – Nhà chưng cất Speyside kín tiếng của William Grant & Sons
Kininvie Distillery là nhà chưng cất Single Malt Scotch Whisky nằm tại Dufftown, Moray, Scotland, thuộc vùng whisky Speyside. Được William Grant & Sons xây dựng năm 1990, Kininvie có vị trí đặc biệt khi nằm ngay trong khu vực của The Balvenie Distillery và gần Glenfiddich – hai nhà chưng cất nổi tiếng cùng thuộc tập đoàn gia đình William Grant & Sons.

Auchentoshan Distillery – Nhà chưng cất whisky Lowland hơn 200 năm bên Glasgow, Scotland
Auchentoshan Distillery là nhà chưng cất Scotch whisky nằm tại Clydebank, ở phía tây bắc Glasgow, Scotland. Nhà chưng cất có lịch sử chính thức từ năm 1823 và ngày nay được biết đến đặc biệt với phương pháp chưng cất ba lần – Triple Distillation, tạo nên phong cách nhẹ, tươi và mềm mại đặc trưng của Auchentoshan Single Malt Scotch Whisky.

Nằm tại số 100 Trần Hưng Đạo, Giáo xứ Hải Dương thuộc Giáo hạt Hải Dương, Giáo phận Hải Phòng là một cộng đoàn Công giáo lâu đời giữa vùng đất Hải Dương. Ngôi nhà thờ được ghi nhận xây dựng từ năm 1875, hiện diện giữa khu vực trung tâm đô thị và gắn với một vùng đất có vị trí đặc biệt trong lịch sử Công giáo miền Đông Bắc. Không xa nhà thờ là Đền Thánh Tử Đạo Hải Dương, nơi lưu dấu cuộc tử đạo năm 1861 của các chứng nhân đức tin sau này được Giáo hội tuyên phong hiển thánh.

Giữa khu vực nội thành Hải Phòng, trên trục đường Lạch Tray đông đúc, Giáo xứ Hàng Kênh thuộc Giáo hạt Chính Tòa, Giáo phận Hải Phòng là một cộng đoàn Công giáo có lịch sử hơn một thế kỷ. Hàng Kênh được thành lập với tư cách giáo họ từ năm 1893, từng trực thuộc Giáo xứ Nam Pháp trước khi chính thức được nâng lên hàng giáo xứ năm 2020. Từ một giáo họ lâu đời giữa lòng thành phố, Hàng Kênh ngày nay vừa phục vụ cộng đoàn địa phương, vừa trở thành điểm quy tụ của nhiều người Công giáo từ các nơi đến Hải Phòng sinh sống và làm việc.

Giữa vùng đồng bằng được nhận diện bằng những con kinh mang số, Giáo xứ Truyền Tin nằm bên Kinh 8A, thuộc Giáo hạt Tân Thạnh, Giáo phận Long Xuyên. Trước đây, địa chỉ quen thuộc của nhà thờ là Thạnh Đông A, huyện Tân Hiệp, tỉnh Kiên Giang; sau thay đổi địa giới hành chính, khu vực này thuộc xã Thạnh Đông, tỉnh An Giang. Tên gọi Kinh 8A vẫn còn đó, gắn nhà thờ với một không gian rất đặc trưng của miền Tây: những con kinh thẳng dài, ruộng lúa và các xóm dân cư hình thành dọc hai bên bờ nước.

Giữa một vùng ven biển vốn được hình dung bằng những bãi cát thấp và Biển Đông, Khu bảo tồn thiên nhiên Bình Châu – Phước Bửu còn có những điểm địa hình cao hơn nằm trong rừng. Tầm Bồ là một trong số đó. Với độ cao khoảng 114 m, nơi đây không phải một ngọn núi lớn, nhưng đủ để mở ra một góc nhìn khác về vùng đất: từ rừng nhìn về phía dải biển Hồ Cốc – Hồ Tràm.Câu chuyện của Tầm Bồ vì thế không nằm ở độ cao. Điều đáng chú ý là vị trí của một điểm cao giữa khu rừng tự nhiên nằm rất gần biển.

Ở phía biển của Bình Châu có một khoảng cửa nước nối không gian phía trong với Biển Đông. Trên bản đồ địa danh biển Việt Nam, nơi này mang tên Cửa Bình Châu. Gần đó là Đầm Bình Châu, cảng cá, khu neo đậu tàu thuyền và những công trình phục vụ hoạt động nghề biển.

Trên hành trình từ vùng đất phía trong Đông Nam Bộ về cửa biển Lộc An, sông Ray đi qua một công trình đã làm thay đổi đáng kể cảnh quan và vai trò của dòng nước: Hồ Sông Ray. Với dung tích hơn 215 triệu m³, đây không đơn thuần là một mặt hồ rộng giữa vùng nông nghiệp mà là một hồ chứa có vai trò quan trọng đối với nguồn nước của cả khu vực.

Trước khi gặp Biển Đông tại Lộc An, nước của sông Ray đã đi qua một hành trình dài từ vùng đất phía trong của Đông Nam Bộ. Dòng sông đi qua địa bàn Đồng Nai, tiếp tục chảy về phía nam, qua hồ chứa Sông Ray rồi cuối cùng mở ra vùng cửa biển Lộc An. Nếu nhìn Lộc An từ phía biển, sông Ray là dòng nước đi đến điểm kết thúc; nhưng nếu lần ngược dòng, đó lại là một câu chuyện kéo dài qua nhiều vùng đất.

Ở phía biển của xã Bình Châu, những con tàu đánh cá, bến neo đậu và hoạt động mua bán thủy sản tạo nên một diện mạo rất khác với rừng hay suối khoáng nóng thường được nhắc đến khi nói về vùng đất này. Nơi người dân quen gọi là Cảng cá Bình Châu cũng gắn với tên Bến Lội trong các tài liệu quản lý nghề cá, lưu giữ một phần đời sống biển đã hình thành và tiếp diễn qua nhiều năm.

Giữa vùng rừng ven biển Bình Châu, có một hiện tượng tự nhiên đã khiến tên Bình Châu được biết đến từ rất lâu trước khi những khu nghỉ dưỡng hiện đại xuất hiện: nước nóng từ lòng đất. Hàng chục điểm nước khoáng nóng lộ thiên, có nơi đạt nhiệt độ khoảng 80°C, tạo nên một không gian đặc biệt giữa rừng, cách Biển Đông không xa.