Đang tải bài viết…
Đang tải bài viết…
Bên bờ biển Long Hải, Dinh Cô không chỉ là một công trình thờ tự. Từ câu chuyện dân gian về một người con gái gặp nạn trên biển, qua nhiều thế hệ, nơi đây trở thành điểm tựa tinh thần của cộng đồng ngư dân và hình thành một hệ thống tín ngưỡng gắn chặt với đời sống biển. Dinh, Mộ Cô và lễ hội hằng năm vì thế cùng kể một câu chuyện về cách cư dân Long Hải gửi niềm tin của mình vào biển cả. Dinh Cô được công nhận là di tích cấp quốc gia năm 1995.
Câu chuyện về Dinh Cô được lưu truyền với nhiều lớp kể dân gian. Một trong những truyền tích phổ biến kể về người con gái tên Lê Thị Hồng, quê vùng Tam Quan, theo cha trên thuyền buôn vào phương Nam. Khi thuyền đi qua vùng biển Long Hải, cô gặp nạn và mất khi còn rất trẻ. Thi thể sau đó trôi dạt vào bờ và được người dân địa phương chôn cất.
Theo thời gian, quanh ngôi mộ xuất hiện những câu chuyện về sự linh ứng. Cư dân biển tin rằng Bà Cô che chở cho người đi biển, giúp dân làng bình an và những chuyến ra khơi thuận lợi. Từ niềm tin được truyền qua nhiều thế hệ, một nơi thờ tự dần hình thành.
Dinh Cô được khởi dựng từ cuối thế kỷ XVIII. Đến năm 1930, công trình đã được xây dựng khá khang trang; sau một trận hỏa hoạn, Dinh được xây dựng lại vào năm 1987 với diện mạo về cơ bản được duy trì về sau.
Điều đáng chú ý là câu chuyện ấy không tồn tại tách rời khỏi vùng đất. Dinh nằm ngay trong không gian biển Long Hải, còn Mộ Cô ở một vị trí khác trên đồi Cô Sơn nhìn ra mặt nước. Biển vừa là nơi bắt đầu huyền tích, vừa là môi trường sống của cộng đồng đã gìn giữ tín ngưỡng này.
Dinh Cô nằm dưới chân mũi Thùy Vân, trong vùng Long Hải ngày nay thuộc xã Long Hải, Thành phố Hồ Chí Minh. Trước khi sắp xếp lại đơn vị hành chính, địa danh quen thuộc này thuộc thị trấn Long Hải, huyện Long Đất, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu. Tên Long Hải vẫn được sử dụng để nhận diện vùng đất, vùng biển và không gian văn hóa đã hình thành từ lâu tại đây.
Quần thể Dinh có diện tích hơn 1.000 m². Từ cổng tam quan, người đến Dinh đi qua 37 bậc tam cấp để lên khu điện thờ. Không gian kiến trúc nằm trên triền đất cao hơn bãi biển, phía trước mở về phía biển Long Hải.
Trung tâm chính điện là bàn thờ Bà Cô. Nhưng hệ thống thờ tự tại đây rộng hơn tín ngưỡng dành riêng cho một nhân vật.
Bên cạnh Bà Cô còn có các bàn thờ và hình tượng thuộc nhiều lớp tín ngưỡng dân gian, Phật giáo và đời sống tâm linh của cư dân Nam Bộ như Diêu Trì Phật Mẫu, Ngũ Hành Nương Nương, Tứ Pháp Nương Nương, Quan Thế Âm Bồ Tát, Quan Thánh Đế Quân cùng nhiều vị khác.
Sự hiện diện của nhiều lớp thờ tự cho thấy Dinh Cô đã vượt khỏi câu chuyện ban đầu về một người con gái. Qua thời gian, nơi đây trở thành không gian để cộng đồng gửi gắm nhiều niềm tin liên quan đến cuộc sống, thiên nhiên và những chuyến đi biển.
Dinh Cô và Mộ Cô có quan hệ mật thiết nhưng không nằm cùng một vị trí.
Mộ Cô nằm trên đồi Cô Sơn, cách Dinh khoảng 1 km. Đây là nơi gắn trực tiếp với câu chuyện người con gái được cư dân địa phương an táng sau khi thi thể trôi dạt vào vùng biển Long Hải.
Việc một bên là mộ, một bên là dinh thờ giúp nhìn rõ quá trình một ký ức dân gian trở thành tín ngưỡng cộng đồng.
Từ nơi an táng một người gặp nạn, niềm tin về sự che chở của Bà Cô được hình thành. Từ niềm tin ấy xuất hiện nơi thờ tự. Rồi qua nhiều thế hệ, các nghi thức và lễ hội tiếp tục được duy trì.
Biển luôn hiện diện trong toàn bộ quá trình đó.
Đó là nơi huyền tích bắt đầu, là không gian mưu sinh của những người gìn giữ tín ngưỡng và cũng là nơi diễn ra những nghi thức quan trọng trong mùa lễ hội.
Chính mối quan hệ này khiến Dinh Cô khác với một công trình tín ngưỡng chỉ được nhận biết qua kiến trúc. Muốn hiểu Dinh Cô phải nhìn cả ngôi dinh, Mộ Cô, bờ biển và cộng đồng cư dân sống quanh chúng.
Hằng năm, vào các ngày 10, 11 và 12 tháng Hai âm lịch, cộng đồng Long Hải tổ chức Lễ hội Dinh Cô. Lễ hội hình thành từ cuối thế kỷ XVIII, gắn với quá trình khai phá, lập làng và đời sống của cư dân ven biển. Năm 2023, Lễ hội Dinh Cô được đưa vào Danh mục Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia.
Đến năm 2026, lễ hội vẫn được xã Long Hải tổ chức với các nghi thức truyền thống cùng nhiều hoạt động văn hóa cộng đồng. Điều này cho thấy Dinh Cô không phải một di tích chỉ lưu giữ câu chuyện của quá khứ. Tín ngưỡng vẫn tiếp tục hiện diện trong đời sống của vùng đất.
Đằng sau một vùng biển ngày nay có thêm nhiều khu lưu trú và hoạt động nghỉ dưỡng vẫn là một cộng đồng đã sống cùng biển qua nhiều thế hệ. Với họ, biển mang lại sinh kế nhưng cũng chứa đựng những bất trắc của sóng gió và thời tiết.
Trong bối cảnh ấy, niềm tin về Bà Cô có thể được hiểu như một phần trong cách cộng đồng cư dân biển tìm kiếm sự bình an trước mỗi hành trình.
Bởi vậy, giá trị của Dinh Cô không chỉ nằm ở tuổi đời của công trình hay danh hiệu một di tích quốc gia. Điều đáng chú ý hơn là mối liên hệ vẫn còn tiếp diễn giữa một ngôi dinh, một ngôi mộ, một lễ hội và cộng đồng sống bằng biển.
Chính mối liên hệ ấy đã khiến câu chuyện về một người con gái bên bờ biển trở thành một phần ký ức chung của Long Hải.
Mapstore tổng hợp, đối chiếu và biên tập từ nhiều nguồn tư liệu. Cập nhật: 20/09/2026.

Công ty TNHH iWater
122/6 Đặng Văn Ngữ, Phường Phú Nhuận, Thành phố Hồ Chí Minh

Công ty TNHH Rượu 5 Châu (Topruou.com)
1368/79/1/3 Lê Văn Lương, Xã Nhà Bè, Thành phố Hồ Chí Minh

Vựa Cá Thạch Nguyệt – Cửa hàng cá tươi tại phường Thới An, TP.HCM
193 Tô Ngọc Vân, Phường Thới An, Thành phố Hồ Chí Minh

MazLaw – Tổ chức đại diện sở hữu trí tuệ tại Hà Nội
430 Đê La Thành, Phường Ô Chợ Dừa, Thành phố Hà Nội

Văn phòng Luật sư Đặng Đình Ngọc – 27 Lê Văn Lương, Hà Nội
27 Lê Văn Lương, Phường Thanh Xuân, Thành phố Hà Nội

Nước mắm và hải sản khô Phước Hải – nghề từ những chuyến biển
Một chuyến biển không kết thúc khi ghe trở về bờ. Cá được gỡ khỏi lưới, phân loại và đưa đi tiêu thụ; phần khác tiếp tục bước vào một vòng đời mới qua bàn tay của những người ở lại trên đất liền. Cá được xẻ, ướp rồi phơi dưới nắng. Những mẻ cá khác được trộn với muối và đưa vào thùng ủ để sau nhiều tháng trở thành nước mắm. Từ nhu cầu bảo quản sản vật của biển, người Phước Hải đã hình thành những nghề chế biến gắn với làng cá qua nhiều thế hệ. Nước mắm và hải sản khô vì thế không chỉ là món quà người ta mua khi đến Phước Hải. Đằng sau chúng là một phần lịch sử sinh kế của cộng đồng sống bên biển.

Phước Hải đến Lộc An – hành trình tiếp tục về phía đông
Rời vùng làng biển Phước Hải tiếp tục theo dải ven biển về phía đông, cảnh quan dần thay đổi. Minh Đạm lùi lại phía sau, đường bờ mở rộng hơn và vùng đất phía trước tiến dần về hệ thống sông Ray. Ở cuối hành trình là Lộc An – một địa danh từng là xã ven biển độc lập, có cửa sông đổ ra Biển Đông và gắn với một bến quan trọng của Đường Hồ Chí Minh trên biển. Điều đặc biệt là sau những lần sắp xếp hành chính năm 2025, cả điểm xuất phát Phước Hải lẫn vùng Lộc An cũ ngày nay đều nằm trong cùng xã Phước Hải, Thành phố Hồ Chí Minh.

Long Hải đến Phước Hải – qua Kỳ Vân và Đèo Nước Ngọt
Từ Long Hải đi về phía đông, quãng đường sang Phước Hải không dài nhưng cảnh quan thay đổi khá rõ. Bãi biển dần khép lại khi núi tiến sát mặt nước, Mũi Kỳ Vân nhô ra phía biển và con đường phải uốn theo chân núi qua Đèo Nước Ngọt. Qua khỏi đoạn địa hình ấy, không gian lại mở ra với biển Phước Hải và một làng cá lâu đời dưới chân Minh Đạm. Vì vậy, hành trình Long Hải – Phước Hải không chỉ nối hai địa danh gần nhau; nó đi xuyên qua một đoạn bờ nơi núi, biển, đường sá và cộng đồng cư dân cùng tạo nên hình dáng của vùng đất.

Lễ hội Nghinh Ông Nam Hải – mùa lễ của ngư dân Phước Hải
Mỗi năm vào tháng Hai âm lịch, nhịp sống của làng biển Phước Hải có những ngày khác thường. Chiếc lưới vốn theo ngư dân ra biển bước vào những cuộc thi đan lưới, cột lưới; hình ảnh tôm cá xuất hiện trong đoàn diễn hành; còn những người cao niên của làng thực hiện nghi thức ra biển nghinh đón Ông Nam Hải về Dinh. Đó là Lễ hội Nghinh Ông Nam Hải – mùa lễ hình thành từ tín ngưỡng cá Ông, nhưng phía sau nghi lễ còn là câu chuyện về nghề biển, tiền hiền, cộng đồng và cách một làng cá gìn giữ ký ức của mình qua nhiều thế hệ.

Ngọc Lăng Nam Hải – nơi cá Ông được an táng bên biển Phước Hải
Sát bờ biển Phước Hải có một không gian rất khác với những bãi cát, ghe thuyền và khu dân cư thường thấy của một làng chài. Dưới những hàng dương là những ngôi mộ có bia ghi “Nam Hải chi mộ” – nơi người dân an táng những cá voi được kính gọi là cá Ông khi chúng lụy vào vùng biển này. Đó là Ngọc Lăng Nam Hải, một không gian tín ngưỡng đặc biệt được hình thành từ chính mối quan hệ lâu đời giữa cộng đồng ngư dân Phước Hải với biển.

Aultmore Distillery – Nhà chưng cất whisky giữa vùng Foggie Moss, Speyside, Scotland
Aultmore Distillery là nhà chưng cất Scotch whisky nằm gần thị trấn Keith, thuộc vùng Speyside của Scotland. Được Alexander Edward thành lập và bắt đầu sản xuất năm 1897, Aultmore đã tồn tại hơn 125 năm giữa một khu vực từ lâu gắn với nghề chưng cất whisky.

The Glenrothes Distillery – Nhà chưng cất Speyside từ năm 1879 tại Rothes, Scotland
The Glenrothes Distillery là nhà chưng cất Single Malt Scotch Whisky nằm tại Rothes, Moray, Scotland, ngay trung tâm vùng whisky Speyside. Được thành lập năm 1879, nhà chưng cất trải qua gần 150 năm phát triển và ngày nay là một trong những tên tuổi lâu đời gắn với thị trấn Rothes.

Stirling Distillery – Khi whisky trở lại dưới chân lâu đài Stirling sau hơn 170 năm
Ngay dưới chân Stirling Castle, giữa khu phố cổ mang đậm dấu ấn lịch sử Scotland, một nhà chưng cất nhỏ đang viết tiếp câu chuyện từng bị gián đoạn hơn một thế kỷ. Stirling Distillery không có quy mô lớn, nhưng vị trí, lịch sử và hành trình đưa whisky trở lại thành phố Stirling khiến nơi đây trở thành một điểm đáng chú ý trên bản đồ whisky Scotland.

Kininvie Distillery – Nhà chưng cất Speyside kín tiếng của William Grant & Sons
Kininvie Distillery là nhà chưng cất Single Malt Scotch Whisky nằm tại Dufftown, Moray, Scotland, thuộc vùng whisky Speyside. Được William Grant & Sons xây dựng năm 1990, Kininvie có vị trí đặc biệt khi nằm ngay trong khu vực của The Balvenie Distillery và gần Glenfiddich – hai nhà chưng cất nổi tiếng cùng thuộc tập đoàn gia đình William Grant & Sons.

Auchentoshan Distillery – Nhà chưng cất whisky Lowland hơn 200 năm bên Glasgow, Scotland
Auchentoshan Distillery là nhà chưng cất Scotch whisky nằm tại Clydebank, ở phía tây bắc Glasgow, Scotland. Nhà chưng cất có lịch sử chính thức từ năm 1823 và ngày nay được biết đến đặc biệt với phương pháp chưng cất ba lần – Triple Distillation, tạo nên phong cách nhẹ, tươi và mềm mại đặc trưng của Auchentoshan Single Malt Scotch Whisky.

Một chuyến biển không kết thúc khi ghe trở về bờ. Cá được gỡ khỏi lưới, phân loại và đưa đi tiêu thụ; phần khác tiếp tục bước vào một vòng đời mới qua bàn tay của những người ở lại trên đất liền. Cá được xẻ, ướp rồi phơi dưới nắng. Những mẻ cá khác được trộn với muối và đưa vào thùng ủ để sau nhiều tháng trở thành nước mắm. Từ nhu cầu bảo quản sản vật của biển, người Phước Hải đã hình thành những nghề chế biến gắn với làng cá qua nhiều thế hệ. Nước mắm và hải sản khô vì thế không chỉ là món quà người ta mua khi đến Phước Hải. Đằng sau chúng là một phần lịch sử sinh kế của cộng đồng sống bên biển.

Rời vùng làng biển Phước Hải tiếp tục theo dải ven biển về phía đông, cảnh quan dần thay đổi. Minh Đạm lùi lại phía sau, đường bờ mở rộng hơn và vùng đất phía trước tiến dần về hệ thống sông Ray. Ở cuối hành trình là Lộc An – một địa danh từng là xã ven biển độc lập, có cửa sông đổ ra Biển Đông và gắn với một bến quan trọng của Đường Hồ Chí Minh trên biển. Điều đặc biệt là sau những lần sắp xếp hành chính năm 2025, cả điểm xuất phát Phước Hải lẫn vùng Lộc An cũ ngày nay đều nằm trong cùng xã Phước Hải, Thành phố Hồ Chí Minh.

Từ Long Hải đi về phía đông, quãng đường sang Phước Hải không dài nhưng cảnh quan thay đổi khá rõ. Bãi biển dần khép lại khi núi tiến sát mặt nước, Mũi Kỳ Vân nhô ra phía biển và con đường phải uốn theo chân núi qua Đèo Nước Ngọt. Qua khỏi đoạn địa hình ấy, không gian lại mở ra với biển Phước Hải và một làng cá lâu đời dưới chân Minh Đạm. Vì vậy, hành trình Long Hải – Phước Hải không chỉ nối hai địa danh gần nhau; nó đi xuyên qua một đoạn bờ nơi núi, biển, đường sá và cộng đồng cư dân cùng tạo nên hình dáng của vùng đất.

Mỗi năm vào tháng Hai âm lịch, nhịp sống của làng biển Phước Hải có những ngày khác thường. Chiếc lưới vốn theo ngư dân ra biển bước vào những cuộc thi đan lưới, cột lưới; hình ảnh tôm cá xuất hiện trong đoàn diễn hành; còn những người cao niên của làng thực hiện nghi thức ra biển nghinh đón Ông Nam Hải về Dinh. Đó là Lễ hội Nghinh Ông Nam Hải – mùa lễ hình thành từ tín ngưỡng cá Ông, nhưng phía sau nghi lễ còn là câu chuyện về nghề biển, tiền hiền, cộng đồng và cách một làng cá gìn giữ ký ức của mình qua nhiều thế hệ.

Sát bờ biển Phước Hải có một không gian rất khác với những bãi cát, ghe thuyền và khu dân cư thường thấy của một làng chài. Dưới những hàng dương là những ngôi mộ có bia ghi “Nam Hải chi mộ” – nơi người dân an táng những cá voi được kính gọi là cá Ông khi chúng lụy vào vùng biển này. Đó là Ngọc Lăng Nam Hải, một không gian tín ngưỡng đặc biệt được hình thành từ chính mối quan hệ lâu đời giữa cộng đồng ngư dân Phước Hải với biển.

Ở một làng biển, niềm tin thường bắt đầu từ những điều rất gần với đời sống. Với ngư dân Phước Hải, biển mang lại nguồn sống nhưng cũng là nơi con người phải đối diện với sóng gió và những bất trắc ngoài khơi. Từ trải nghiệm ấy, cá voi được kính gọi là cá Ông, được xem như vị thần hộ mệnh của người đi biển. Dinh Ông Nam Hải là một trong những nơi cộng đồng gửi gắm niềm tin đó, đồng thời là mắt xích quan trọng trong không gian tín ngưỡng nối Dinh Ông, Ngọc Lăng và Lễ hội Nghinh Ông của làng biển Phước Hải.

Trước khi có tên Phước Hải, vùng làng biển dưới chân Minh Đạm từng được biết đến với một cái tên rất gần với nghề nghiệp của cư dân: Lưới Rê. Từ một xóm chài hình thành bên biển, tên Lưới Rê đi qua lớp tên Hải Chữ rồi bước vào Phước Hải thôn vào đầu thế kỷ XIX. Những tên gọi ấy không chỉ cho biết một địa danh đã thay đổi như thế nào. Chúng còn lưu lại dấu vết về quá trình tụ cư, sinh kế và cách một cộng đồng nghề biển từng bước tạo dựng vùng đất mà ngày nay chúng ta gọi là Phước Hải.

Khi trời còn sớm, bờ biển Phước Hải đã bắt đầu một nhịp sống khác với hình ảnh của một vùng nghỉ dưỡng. Ghe thuyền trở về, cá được đưa lên bờ, lưới được gỡ, hải sản được phân loại trước khi đi vào chợ, các cơ sở chế biến hoặc những sân phơi. Nhịp sống ấy đã tồn tại qua nhiều thế hệ và tạo nên Làng chài Phước Hải – một cộng đồng ven biển dưới chân Minh Đạm, nơi lịch sử của vùng đất gắn chặt với nghề đánh bắt, chế biến hải sản và những tín ngưỡng hình thành từ cuộc sống ngoài khơi.

Từ Đèo Nước Ngọt đi về phía đông, đường bờ mở ra sau đoạn núi tiến sát mặt nước ở Kỳ Vân. Phía trước là biển, phía sau vẫn còn đường nền của hệ núi Minh Đạm, còn ở khoảng giữa là một cộng đồng đã sống bằng nghề biển qua nhiều thế hệ. Bãi biển Phước Hải nằm trong chính không gian ấy. Vì vậy, đây không chỉ là một bãi tắm trên tuyến ven biển, mà còn là nơi cảnh quan tự nhiên và đời sống của làng cá Phước Hải gặp nhau mỗi ngày.