Đang tải bài viết…
Đang tải bài viết…
Trên trục đường 21 Tháng 8 nối khu vực Phan Rang với Tháp Chàm, Giáo xứ Cầu Bảo thuộc Giáo hạt Phan Rang, Giáo phận Nha Trang là một cộng đoàn hình thành từ khoảng năm 1940. Khởi đầu chỉ với vài gia đình Công giáo giữa vùng dân cư còn thưa thớt, Cầu Bảo từng lần lượt thuộc Tấn Tài rồi Phan Rang trước khi trở thành giáo xứ độc lập năm 1966. Lịch sử ấy phản ánh khá rõ quá trình những xứ đạo cũ của Phan Rang sinh ra những cộng đoàn mới khi thành phố dần mở rộng.
Trong lược sử của Giáo phận Nha Trang, Cầu Bảo còn được nhắc bằng tên Cầu Bà Bảo. Cộng đoàn nằm trên tuyến Quốc lộ 27 cũ, gần ga Tháp Chàm và cách trung tâm Phan Rang khoảng 3,5 km.
Khoảng năm 1940, tại đây mới chỉ có một vài gia đình Công giáo. Quy mô rất nhỏ, chưa đủ để hình thành một giáo xứ riêng, nhưng vị trí nằm giữa Phan Rang và Tháp Chàm khiến khu vực này dần trở thành một vùng dân cư mới.
Từ những gia đình đầu tiên ấy, Họ Cầu Bảo bắt đầu hình thành.
Một nhân vật được lược sử giáo xứ nhắc đến trong buổi đầu là bà phước Anna Cân, sau này trở thành bà Nhất của Dòng Mến Thánh Giá Dinh Thủy.
Nhận thấy đây là một vùng truyền giáo còn rộng, linh mục phụ trách Tấn Tài lúc bấy giờ đã cử nữ tu Anna Cân đến dạy giáo lý. Những buổi giáo lý được tổ chức ngay giữa xóm dân cư, trong điều kiện chưa có một cơ sở Công giáo hoàn chỉnh.
Câu chuyện khá giản dị: vào những tối sáng trăng, tiếng dạy kinh và giáo lý của nữ tu dần thu hút những người sống chung quanh. Một cộng đoàn nhỏ từ đó từng bước được hình thành không phải bằng một công trình lớn, mà từ những gia đình và những buổi gặp gỡ thường ngày.
Trong giai đoạn đầu, Họ Cầu Bảo thuộc Giáo xứ Tấn Tài. Đây là điều đặc biệt có ý nghĩa khi nhìn toàn bộ lịch sử Công giáo vùng Phan Rang.
Tấn Tài là một trong những cộng đoàn Công giáo lâu đời nhất tại khu vực này, với nguồn gốc từ xóm đạo Dinh Thủy khoảng năm 1664 và chính thức thành lập giáo xứ năm 1882. Khi dân cư Phan Rang và vùng phụ cận phát triển, từ địa bàn Tấn Tài lần lượt hình thành thêm nhiều cộng đoàn mới.
Cầu Bảo là một trong số đó.
Trong các tư liệu về Tấn Tài, Cầu Bảo còn gắn với tên Phước Đức. Vì vậy khi xây dựng dữ liệu lịch sử, các tên Cầu Bảo – Cầu Bà Bảo – Phước Đức đều có giá trị tìm kiếm, nhưng tên giáo xứ hiện hành vẫn là Giáo xứ Cầu Bảo.
Ngày 09/01/1963, Giáo xứ Phan Rang chính thức được thành lập tại trung tâm thị xã. Giáo xứ mới gồm họ chính Phan Rang và ba họ lẻ là Phước Đức, Mỹ Đức và Tấn Lợi.
Từ thời điểm này, Cầu Bảo không còn trực thuộc Tấn Tài mà được chuyển sang Giáo xứ Phan Rang. Cha Giuse Đinh Tường Huấn, quản xứ tiên khởi Phan Rang, đồng thời coi sóc cộng đoàn Cầu Bảo.
Sự thay đổi này chỉ kéo dài hơn ba năm. Dân cư tiếp tục tăng và khu vực phía Tháp Chàm đã đủ điều kiện để hình thành một giáo xứ mới.
Ngày 03/10/1966, Cầu Bảo được nâng lên hàng giáo xứ. Đây là mốc chính thức thành lập Giáo xứ Cầu Bảo.
Khi thành lập, giáo xứ còn bao gồm Giáo họ Mỹ Đức. Cha Giuse Nguyễn Thế Thoại được giao trách nhiệm quản xứ tiên khởi.
Buổi đầu của một giáo xứ mới vẫn còn rất thiếu thốn. Cha Giuse Nguyễn Thế Thoại chưa có nhà xứ nên phải thuê nhà ở trong khoảng sáu tháng. Sau đó, với nguồn thu từ việc dạy học cùng sự giúp đỡ của giáo dân, cộng đoàn mới dựng được một căn nhà đất ba gian làm nơi sinh hoạt.
Nhưng chỉ trong vài năm, diện mạo Cầu Bảo đã bắt đầu thay đổi.
Khoảng 1969–1970, cha Giuse Nguyễn Thế Thoại cho xây dựng một ngôi nhà thờ khá đặc biệt theo dạng hai tầng.
Tầng trệt được sử dụng làm nơi sinh hoạt cộng đồng, phòng giáo lý và Trường Tiểu học Thanh Thế. Tầng trên dành cho việc phụng tự.
Cách tổ chức ấy phản ánh khá rõ nhu cầu của một giáo xứ mới: nhà thờ không chỉ là nơi cử hành Thánh lễ mà còn đảm nhận vai trò giáo dục và sinh hoạt cộng đồng.
Trong bối cảnh Phan Rang – Tháp Chàm đang phát triển, Cầu Bảo cũng dần chuyển từ một họ đạo ngoại vi thành một giáo xứ nằm trong vùng đô thị.
Mỹ Đức có mối quan hệ đặc biệt với Cầu Bảo. Khi Cầu Bảo được thành lập, Mỹ Đức là giáo họ trực thuộc giáo xứ mới.
Cộng đoàn Mỹ Đức vốn hình thành từ năm 1954 với hơn 100 gia đình Công giáo, phần lớn có nguồn gốc Hà Nội và Bùi Chu. Sau nhiều lần thay đổi đơn vị mục vụ, Mỹ Đức lần lượt thuộc Tấn Tài, Phan Rang rồi Cầu Bảo.
Khi cộng đoàn phát triển đủ lớn, Mỹ Đức tiếp tục trưởng thành thành một giáo xứ riêng.
Quá trình ấy tạo nên một chuỗi lịch sử khá rõ: Tấn Tài → Phan Rang/Cầu Bảo → Mỹ Đức. Một giáo xứ cũ sinh ra cộng đoàn mới, rồi chính cộng đoàn ấy lại trở thành nơi nâng đỡ một giáo xứ khác hình thành.
Vị trí của Cầu Bảo góp phần định hình lịch sử giáo xứ. Nhà thờ nằm trên tuyến giao thông kết nối hai trung tâm Phan Rang và Tháp Chàm, gần khu vực ga Tháp Chàm.
Khi cộng đoàn mới hình thành vào khoảng năm 1940, khu vực này còn mang nhiều nét ngoại vi. Nhưng cùng với quá trình phát triển của đô thị Phan Rang – Tháp Chàm, các khu dân cư dần nối liền nhau.
Cầu Bảo vì vậy cũng thay đổi. Từ một họ đạo với vài gia đình, giáo xứ dần trở thành một cộng đoàn nằm giữa không gian đô thị, chung quanh là các giáo xứ Phan Rang, Mỹ Đức, Tân Hội và Đồng Mé.
Sự phát triển của giáo xứ gắn khá chặt với chính quá trình đô thị hóa của vùng Phan Rang – Tháp Chàm.
Giáo xứ Cầu Bảo nhận Thánh Têrêsa Hài Đồng Giêsu làm bổn mạng.
Hình ảnh vị thánh với “con đường thơ ấu thiêng liêng” trở thành điểm quy tụ đời sống đức tin của cộng đoàn qua nhiều thế hệ. Ngày lễ kính Thánh Têrêsa vào 01/10 hằng năm cũng là dịp đặc biệt của giáo xứ.
Bên cạnh các sinh hoạt phụng vụ, Cầu Bảo hình thành nhiều hội đoàn và hoạt động giáo lý dành cho thiếu nhi, giới trẻ, các gia đình và người dự tòng. Cộng đoàn Dòng Khiết Tâm Đức Mẹ cũng có thời gian dài hiện diện và đồng hành trong hoạt động mục vụ của giáo xứ.
Sau nhiều thập niên sử dụng, ngôi nhà thờ được xây dựng từ khoảng năm 1969–1970 dần không còn đáp ứng được nhu cầu của cộng đoàn.
Ngày 30/10/2006, Giáo xứ Cầu Bảo khởi công xây dựng ngôi thánh đường mới. Sau hơn một năm thi công, công trình hoàn thành và ngày 12/12/2007 diễn ra Thánh lễ tạ ơn cùng nghi thức cung hiến thánh đường.
Ngôi nhà thờ mới đánh dấu một chặng phát triển khác của Cầu Bảo. Nếu nhà thờ lầu cuối thập niên 1960 phản ánh thời kỳ một giáo xứ mới đang gây dựng cơ sở, thì công trình đầu thế kỷ XXI cho thấy cộng đoàn đã bước sang một giai đoạn ổn định hơn.
Nhà thờ ngày nay trở thành một điểm nhận diện quen thuộc trên đường 21 Tháng 8 của khu vực Phan Rang – Tháp Chàm.
Hiện nay, Giáo xứ Cầu Bảo thuộc Giáo hạt Phan Rang, Giáo phận Nha Trang.
Trong cùng giáo hạt còn có nhiều giáo xứ gắn chặt với lịch sử phát triển Công giáo vùng Ninh Thuận như Tấn Tài, Phan Rang, Mỹ Đức, Tân Hội và Tân Xuân. Khi đặt các giáo xứ này cạnh nhau, có thể nhìn thấy khá rõ quá trình mở rộng của các cộng đoàn Công giáo theo sự phát triển dân cư của vùng Phan Rang.
Tấn Tài là một trong những gốc lâu đời. Phan Rang hình thành năm 1963. Cầu Bảo trở thành giáo xứ năm 1966. Từ những cộng đoàn ấy, các giáo xứ khác tiếp tục phát triển.
Vì thế lịch sử Cầu Bảo không đứng riêng mà là một phần trong mạng lưới các xứ đạo đã cùng hình thành nên diện mạo Công giáo của vùng Phan Rang – Tháp Chàm.
Trước năm 2025, Nhà thờ Cầu Bảo thuộc phường Bảo An, thành phố Phan Rang – Tháp Chàm, tỉnh Ninh Thuận, trên trục đường 21 Tháng 8.
Sau việc sắp xếp đơn vị hành chính năm 2025, toàn bộ phường Bảo An cũ cùng phường Phước Mỹ và xã Thành Hải được hợp nhất thành phường Bảo An, tỉnh Khánh Hòa.
Tên Bảo An vì vậy vẫn được giữ lại, nhưng cấp hành chính phía trên đã thay đổi. Thành phố Phan Rang – Tháp Chàm và tỉnh Ninh Thuận trở thành lớp địa danh lịch sử, trong khi địa chỉ hiện hành thuộc tỉnh Khánh Hòa.
Đối với Mapstore, nên giữ đồng thời cả hai lớp dữ liệu bởi “Cầu Bảo – Phan Rang – Tháp Chàm – Ninh Thuận” vẫn là cụm từ đã gắn với nhà thờ trong nhiều thập niên và còn được sử dụng phổ biến trong tìm kiếm.
Câu chuyện Cầu Bảo bắt đầu khá nhỏ.
Khoảng năm 1940 chỉ có vài gia đình Công giáo. Một nữ tu được cử đến dạy giáo lý. Cộng đoàn trở thành một họ đạo thuộc Tấn Tài, rồi chuyển về Phan Rang năm 1963. Ba năm sau, ngày 03/10/1966, Cầu Bảo chính thức trở thành giáo xứ.
Những thay đổi ấy diễn ra song song với sự phát triển của vùng đất chung quanh. Nơi từng là khu vực nằm giữa Phan Rang và ga Tháp Chàm dần trở thành một phần của đô thị; nhà thờ cũ được thay bằng thánh đường mới và những cộng đoàn từng thuộc Cầu Bảo lại tiếp tục trưởng thành.
Nếu Tấn Tài cho thấy chiều sâu hơn ba thế kỷ của Công giáo bên sông Dinh, thì Cầu Bảo kể một câu chuyện khác: câu chuyện một họ đạo nhỏ lớn lên cùng thành phố.
Và chính những lớp lịch sử nối tiếp ấy giúp nhìn rõ hơn cách các xứ đạo đã cùng đi với vùng đất Phan Rang – Tháp Chàm qua từng giai đoạn.
Tên: Giáo xứ Cầu Bảo
Tên lịch sử/liên quan: Cầu Bà Bảo – Phước Đức
Giáo hạt: Phan Rang
Giáo phận: Nha Trang
Khởi đầu cộng đoàn: Khoảng năm 1940
Giáo xứ mẹ ban đầu: Giáo xứ Tấn Tài
Chuyển thuộc Giáo xứ Phan Rang: Năm 1963
Thành lập Giáo xứ Cầu Bảo: 03/10/1966
Quản xứ tiên khởi: Giuse Nguyễn Thế Thoại
Bổn mạng: Thánh Têrêsa Hài Đồng Giêsu
Ngày kính: 01/10
Nhà thờ cũ: Xây dựng khoảng năm 1969–1970
Khởi công Nhà thờ mới: 30/10/2006
Cung hiến Nhà thờ mới: 12/12/2007
Địa chỉ hiện nay: Đường 21 Tháng 8, phường Bảo An, tỉnh Khánh Hòa
Địa chỉ trước đây: Phường Bảo An, thành phố Phan Rang – Tháp Chàm, tỉnh Ninh Thuận
Loại hình: Giáo xứ Công giáo

Công ty TNHH iWater
122/6 Đặng Văn Ngữ, Phường Phú Nhuận, Thành phố Hồ Chí Minh

Công ty TNHH Rượu 5 Châu (Topruou.com)
1368/79/1/3 Lê Văn Lương, Xã Nhà Bè, Thành phố Hồ Chí Minh

Vựa Cá Thạch Nguyệt – Cửa hàng cá tươi tại phường Thới An, TP.HCM
193 Tô Ngọc Vân, Phường Thới An, Thành phố Hồ Chí Minh

MazLaw – Tổ chức đại diện sở hữu trí tuệ tại Hà Nội
430 Đê La Thành, Phường Ô Chợ Dừa, Thành phố Hà Nội

Văn phòng Luật sư Đặng Đình Ngọc – 27 Lê Văn Lương, Hà Nội
27 Lê Văn Lương, Phường Thanh Xuân, Thành phố Hà Nội

Nước mắm và hải sản khô Phước Hải – nghề từ những chuyến biển
Một chuyến biển không kết thúc khi ghe trở về bờ. Cá được gỡ khỏi lưới, phân loại và đưa đi tiêu thụ; phần khác tiếp tục bước vào một vòng đời mới qua bàn tay của những người ở lại trên đất liền. Cá được xẻ, ướp rồi phơi dưới nắng. Những mẻ cá khác được trộn với muối và đưa vào thùng ủ để sau nhiều tháng trở thành nước mắm. Từ nhu cầu bảo quản sản vật của biển, người Phước Hải đã hình thành những nghề chế biến gắn với làng cá qua nhiều thế hệ. Nước mắm và hải sản khô vì thế không chỉ là món quà người ta mua khi đến Phước Hải. Đằng sau chúng là một phần lịch sử sinh kế của cộng đồng sống bên biển.

Phước Hải đến Lộc An – hành trình tiếp tục về phía đông
Rời vùng làng biển Phước Hải tiếp tục theo dải ven biển về phía đông, cảnh quan dần thay đổi. Minh Đạm lùi lại phía sau, đường bờ mở rộng hơn và vùng đất phía trước tiến dần về hệ thống sông Ray. Ở cuối hành trình là Lộc An – một địa danh từng là xã ven biển độc lập, có cửa sông đổ ra Biển Đông và gắn với một bến quan trọng của Đường Hồ Chí Minh trên biển. Điều đặc biệt là sau những lần sắp xếp hành chính năm 2025, cả điểm xuất phát Phước Hải lẫn vùng Lộc An cũ ngày nay đều nằm trong cùng xã Phước Hải, Thành phố Hồ Chí Minh.

Long Hải đến Phước Hải – qua Kỳ Vân và Đèo Nước Ngọt
Từ Long Hải đi về phía đông, quãng đường sang Phước Hải không dài nhưng cảnh quan thay đổi khá rõ. Bãi biển dần khép lại khi núi tiến sát mặt nước, Mũi Kỳ Vân nhô ra phía biển và con đường phải uốn theo chân núi qua Đèo Nước Ngọt. Qua khỏi đoạn địa hình ấy, không gian lại mở ra với biển Phước Hải và một làng cá lâu đời dưới chân Minh Đạm. Vì vậy, hành trình Long Hải – Phước Hải không chỉ nối hai địa danh gần nhau; nó đi xuyên qua một đoạn bờ nơi núi, biển, đường sá và cộng đồng cư dân cùng tạo nên hình dáng của vùng đất.

Lễ hội Nghinh Ông Nam Hải – mùa lễ của ngư dân Phước Hải
Mỗi năm vào tháng Hai âm lịch, nhịp sống của làng biển Phước Hải có những ngày khác thường. Chiếc lưới vốn theo ngư dân ra biển bước vào những cuộc thi đan lưới, cột lưới; hình ảnh tôm cá xuất hiện trong đoàn diễn hành; còn những người cao niên của làng thực hiện nghi thức ra biển nghinh đón Ông Nam Hải về Dinh. Đó là Lễ hội Nghinh Ông Nam Hải – mùa lễ hình thành từ tín ngưỡng cá Ông, nhưng phía sau nghi lễ còn là câu chuyện về nghề biển, tiền hiền, cộng đồng và cách một làng cá gìn giữ ký ức của mình qua nhiều thế hệ.

Ngọc Lăng Nam Hải – nơi cá Ông được an táng bên biển Phước Hải
Sát bờ biển Phước Hải có một không gian rất khác với những bãi cát, ghe thuyền và khu dân cư thường thấy của một làng chài. Dưới những hàng dương là những ngôi mộ có bia ghi “Nam Hải chi mộ” – nơi người dân an táng những cá voi được kính gọi là cá Ông khi chúng lụy vào vùng biển này. Đó là Ngọc Lăng Nam Hải, một không gian tín ngưỡng đặc biệt được hình thành từ chính mối quan hệ lâu đời giữa cộng đồng ngư dân Phước Hải với biển.

Aultmore Distillery – Nhà chưng cất whisky giữa vùng Foggie Moss, Speyside, Scotland
Aultmore Distillery là nhà chưng cất Scotch whisky nằm gần thị trấn Keith, thuộc vùng Speyside của Scotland. Được Alexander Edward thành lập và bắt đầu sản xuất năm 1897, Aultmore đã tồn tại hơn 125 năm giữa một khu vực từ lâu gắn với nghề chưng cất whisky.

The Glenrothes Distillery – Nhà chưng cất Speyside từ năm 1879 tại Rothes, Scotland
The Glenrothes Distillery là nhà chưng cất Single Malt Scotch Whisky nằm tại Rothes, Moray, Scotland, ngay trung tâm vùng whisky Speyside. Được thành lập năm 1879, nhà chưng cất trải qua gần 150 năm phát triển và ngày nay là một trong những tên tuổi lâu đời gắn với thị trấn Rothes.

Stirling Distillery – Khi whisky trở lại dưới chân lâu đài Stirling sau hơn 170 năm
Ngay dưới chân Stirling Castle, giữa khu phố cổ mang đậm dấu ấn lịch sử Scotland, một nhà chưng cất nhỏ đang viết tiếp câu chuyện từng bị gián đoạn hơn một thế kỷ. Stirling Distillery không có quy mô lớn, nhưng vị trí, lịch sử và hành trình đưa whisky trở lại thành phố Stirling khiến nơi đây trở thành một điểm đáng chú ý trên bản đồ whisky Scotland.

Kininvie Distillery – Nhà chưng cất Speyside kín tiếng của William Grant & Sons
Kininvie Distillery là nhà chưng cất Single Malt Scotch Whisky nằm tại Dufftown, Moray, Scotland, thuộc vùng whisky Speyside. Được William Grant & Sons xây dựng năm 1990, Kininvie có vị trí đặc biệt khi nằm ngay trong khu vực của The Balvenie Distillery và gần Glenfiddich – hai nhà chưng cất nổi tiếng cùng thuộc tập đoàn gia đình William Grant & Sons.

Auchentoshan Distillery – Nhà chưng cất whisky Lowland hơn 200 năm bên Glasgow, Scotland
Auchentoshan Distillery là nhà chưng cất Scotch whisky nằm tại Clydebank, ở phía tây bắc Glasgow, Scotland. Nhà chưng cất có lịch sử chính thức từ năm 1823 và ngày nay được biết đến đặc biệt với phương pháp chưng cất ba lần – Triple Distillation, tạo nên phong cách nhẹ, tươi và mềm mại đặc trưng của Auchentoshan Single Malt Scotch Whisky.

Một chuyến biển không kết thúc khi ghe trở về bờ. Cá được gỡ khỏi lưới, phân loại và đưa đi tiêu thụ; phần khác tiếp tục bước vào một vòng đời mới qua bàn tay của những người ở lại trên đất liền. Cá được xẻ, ướp rồi phơi dưới nắng. Những mẻ cá khác được trộn với muối và đưa vào thùng ủ để sau nhiều tháng trở thành nước mắm. Từ nhu cầu bảo quản sản vật của biển, người Phước Hải đã hình thành những nghề chế biến gắn với làng cá qua nhiều thế hệ. Nước mắm và hải sản khô vì thế không chỉ là món quà người ta mua khi đến Phước Hải. Đằng sau chúng là một phần lịch sử sinh kế của cộng đồng sống bên biển.

Rời vùng làng biển Phước Hải tiếp tục theo dải ven biển về phía đông, cảnh quan dần thay đổi. Minh Đạm lùi lại phía sau, đường bờ mở rộng hơn và vùng đất phía trước tiến dần về hệ thống sông Ray. Ở cuối hành trình là Lộc An – một địa danh từng là xã ven biển độc lập, có cửa sông đổ ra Biển Đông và gắn với một bến quan trọng của Đường Hồ Chí Minh trên biển. Điều đặc biệt là sau những lần sắp xếp hành chính năm 2025, cả điểm xuất phát Phước Hải lẫn vùng Lộc An cũ ngày nay đều nằm trong cùng xã Phước Hải, Thành phố Hồ Chí Minh.

Từ Long Hải đi về phía đông, quãng đường sang Phước Hải không dài nhưng cảnh quan thay đổi khá rõ. Bãi biển dần khép lại khi núi tiến sát mặt nước, Mũi Kỳ Vân nhô ra phía biển và con đường phải uốn theo chân núi qua Đèo Nước Ngọt. Qua khỏi đoạn địa hình ấy, không gian lại mở ra với biển Phước Hải và một làng cá lâu đời dưới chân Minh Đạm. Vì vậy, hành trình Long Hải – Phước Hải không chỉ nối hai địa danh gần nhau; nó đi xuyên qua một đoạn bờ nơi núi, biển, đường sá và cộng đồng cư dân cùng tạo nên hình dáng của vùng đất.

Mỗi năm vào tháng Hai âm lịch, nhịp sống của làng biển Phước Hải có những ngày khác thường. Chiếc lưới vốn theo ngư dân ra biển bước vào những cuộc thi đan lưới, cột lưới; hình ảnh tôm cá xuất hiện trong đoàn diễn hành; còn những người cao niên của làng thực hiện nghi thức ra biển nghinh đón Ông Nam Hải về Dinh. Đó là Lễ hội Nghinh Ông Nam Hải – mùa lễ hình thành từ tín ngưỡng cá Ông, nhưng phía sau nghi lễ còn là câu chuyện về nghề biển, tiền hiền, cộng đồng và cách một làng cá gìn giữ ký ức của mình qua nhiều thế hệ.

Sát bờ biển Phước Hải có một không gian rất khác với những bãi cát, ghe thuyền và khu dân cư thường thấy của một làng chài. Dưới những hàng dương là những ngôi mộ có bia ghi “Nam Hải chi mộ” – nơi người dân an táng những cá voi được kính gọi là cá Ông khi chúng lụy vào vùng biển này. Đó là Ngọc Lăng Nam Hải, một không gian tín ngưỡng đặc biệt được hình thành từ chính mối quan hệ lâu đời giữa cộng đồng ngư dân Phước Hải với biển.

Ở một làng biển, niềm tin thường bắt đầu từ những điều rất gần với đời sống. Với ngư dân Phước Hải, biển mang lại nguồn sống nhưng cũng là nơi con người phải đối diện với sóng gió và những bất trắc ngoài khơi. Từ trải nghiệm ấy, cá voi được kính gọi là cá Ông, được xem như vị thần hộ mệnh của người đi biển. Dinh Ông Nam Hải là một trong những nơi cộng đồng gửi gắm niềm tin đó, đồng thời là mắt xích quan trọng trong không gian tín ngưỡng nối Dinh Ông, Ngọc Lăng và Lễ hội Nghinh Ông của làng biển Phước Hải.

Trước khi có tên Phước Hải, vùng làng biển dưới chân Minh Đạm từng được biết đến với một cái tên rất gần với nghề nghiệp của cư dân: Lưới Rê. Từ một xóm chài hình thành bên biển, tên Lưới Rê đi qua lớp tên Hải Chữ rồi bước vào Phước Hải thôn vào đầu thế kỷ XIX. Những tên gọi ấy không chỉ cho biết một địa danh đã thay đổi như thế nào. Chúng còn lưu lại dấu vết về quá trình tụ cư, sinh kế và cách một cộng đồng nghề biển từng bước tạo dựng vùng đất mà ngày nay chúng ta gọi là Phước Hải.

Khi trời còn sớm, bờ biển Phước Hải đã bắt đầu một nhịp sống khác với hình ảnh của một vùng nghỉ dưỡng. Ghe thuyền trở về, cá được đưa lên bờ, lưới được gỡ, hải sản được phân loại trước khi đi vào chợ, các cơ sở chế biến hoặc những sân phơi. Nhịp sống ấy đã tồn tại qua nhiều thế hệ và tạo nên Làng chài Phước Hải – một cộng đồng ven biển dưới chân Minh Đạm, nơi lịch sử của vùng đất gắn chặt với nghề đánh bắt, chế biến hải sản và những tín ngưỡng hình thành từ cuộc sống ngoài khơi.

Từ Đèo Nước Ngọt đi về phía đông, đường bờ mở ra sau đoạn núi tiến sát mặt nước ở Kỳ Vân. Phía trước là biển, phía sau vẫn còn đường nền của hệ núi Minh Đạm, còn ở khoảng giữa là một cộng đồng đã sống bằng nghề biển qua nhiều thế hệ. Bãi biển Phước Hải nằm trong chính không gian ấy. Vì vậy, đây không chỉ là một bãi tắm trên tuyến ven biển, mà còn là nơi cảnh quan tự nhiên và đời sống của làng cá Phước Hải gặp nhau mỗi ngày.