Đang tải bài viết…
Đang tải bài viết…
Trên tuyến tỉnh lộ 725 của vùng Bảo Lâm, Giáo xứ Hiệp Phát thuộc Giáo hạt Bảo Lộc, Giáo phận Đà Lạt là một xứ đạo còn khá trẻ. Cộng đoàn được hình thành từ những gia đình đến lập nghiệp trên vùng kinh tế mới từ khoảng thập niên 1980, ban đầu chỉ có một nhà nguyện gỗ giữa vùng đất còn thưa dân. Qua hơn ba thập niên, giáo họ nhỏ thuộc Giáo xứ Lâm Phát dần trưởng thành, có ngôi thánh đường mới năm 2019 và chính thức trở thành Giáo xứ Hiệp Phát năm 2021.
Lịch sử Hiệp Phát gắn với quá trình người dân từ nhiều địa phương đến Bảo Lâm khai phá đất đai và xây dựng những vùng kinh tế mới. Từ khoảng năm 1980, các gia đình có nguồn gốc Nam Định, Ninh Bình, Thanh Hóa, Đồng Nai và miền Tây lần lượt đến định cư. Bên cạnh người Kinh, khu vực này vốn có cộng đồng người K’Ho sinh sống từ trước.
Những người mới đến chủ yếu dựa vào nông nghiệp để gây dựng cuộc sống. Trong bối cảnh ấy, các gia đình Công giáo cũng bắt đầu tìm đến nhau, cùng đọc kinh và hình thành những điểm sinh hoạt tôn giáo nhỏ. Hiệp Phát ra đời từ chính quá trình người dân đến vùng đất mới ấy.
Cuối thập niên 1980, đời sống Công giáo tại khu vực Lộc Ngãi bắt đầu được tổ chức rõ ràng hơn. Tư liệu Giáo phận Đà Lạt ghi nhận năm 1988, Đức cha Batôlômêô Nguyễn Sơn Lâm cùng cha Luy Phạm Văn Nhượng và thầy Giuse Trần Văn Đình đến thăm giáo dân tại vùng kinh tế Lộc Phát 2.
Ba địa điểm được lựa chọn làm nơi quy tụ giáo dân là Đồng Phát, Lâm Phát và Hiệp Phát, mỗi điểm cách nhau khoảng 5 km. Người dân vào rừng chặt cây, xẻ gỗ dựng những lán tạm để sau một ngày lao động có nơi tập trung đọc kinh.
Ba cái tên ấy phản ánh khá rõ một giai đoạn mở đất. Những cộng đoàn Công giáo không hình thành quanh các ngôi nhà thờ có sẵn mà cùng lớn lên với những khu dân cư mới.
Riêng cộng đoàn Hiệp Phát đã có một nhà nguyện bằng gỗ từ năm 1987. Đây là nơi quy tụ những gia đình Công giáo trước khi cộng đoàn có điều kiện xây dựng cơ sở kiên cố.
Hiệp Phát lúc ấy là một giáo họ và về sau trực thuộc Giáo xứ Lâm Phát. Trong nhiều năm, đời sống mục vụ của cộng đoàn gắn với các linh mục phục vụ Lâm Phát, trong đó có cha Giuse Trần Văn Đình, cha Đaminh Nguyễn Ngọc Trang và cha Giuse Lê Minh Long.
Nhà nguyện nhỏ tồn tại giữa một vùng dân cư đang phát triển, chứng kiến quá trình từ những gia đình kinh tế mới thành một cộng đoàn Công giáo ngày càng ổn định.
Để hiểu Hiệp Phát, cần đặt cộng đoàn trong lịch sử Giáo xứ Lâm Phát. Đây là giáo xứ mẹ đã trực tiếp chăm sóc Hiệp Phát trong nhiều năm.
Từ Lâm Phát về sau hình thành ít nhất hai giáo xứ mới. Năm 2019, cộng đoàn Lê Bảo Tịnh được tách ra thành Giáo xứ Lê Bảo Tịnh – Bảo Lâm. Hai năm sau, đến lượt Hiệp Phát trở thành giáo xứ độc lập.
Quá trình này phản ánh sự phát triển dân cư của vùng Bảo Lâm. Khi những điểm kinh tế mới ngày càng đông người, khoảng cách giữa các cộng đoàn và nhà thờ mẹ trở nên lớn hơn, những giáo họ dần có đủ điều kiện để tổ chức đời sống mục vụ riêng.
Trong các tư liệu của Giáo phận, Hiệp Phát còn gắn với tên gọi Anê Đê. Đây là tên Thánh Anê Lê Thị Thành, thường được gọi là bà Đê, một trong các Thánh Tử đạo Việt Nam và cũng là bổn mạng của giáo xứ.
Từ năm 2012, giáo họ được phép chuẩn bị xây dựng một ngôi nhà thờ kiên cố. Ngày 12/07/2015, Đức cha Antôn Vũ Huy Chương, Giám mục Giáo phận Đà Lạt, chủ sự nghi thức đặt viên đá xây dựng nhà thờ.
Công trình được thực hiện trong nhiều năm. Đối với một cộng đoàn hình thành từ vùng kinh tế mới, việc thay thế nhà nguyện gỗ bằng một ngôi thánh đường kiên cố đánh dấu bước chuyển quan trọng trong đời sống giáo họ.
Sau khoảng năm năm xây dựng, ngày 04/11/2019, Đức cha Đaminh Nguyễn Văn Mạnh về Hiệp Phát chủ sự Thánh lễ tạ ơn và nghi thức cung hiến thánh đường kính Thánh Anê Lê Thị Thành.
Cũng trong giai đoạn này, cha Matthêu Nguyễn Văn Việt được giao trách nhiệm quản nhiệm cộng đoàn Hiệp Phát. Giáo họ đã có nhà thờ riêng, linh mục đồng hành thường xuyên và cơ cấu mục vụ ngày càng hoàn chỉnh.
Những điều kiện để Hiệp Phát trở thành một giáo xứ độc lập dần được hình thành.
Ngày 29/06/2021, Đức cha Đaminh Nguyễn Văn Mạnh, Giám mục Giáo phận Đà Lạt, ký nghị định thiết lập Giáo xứ Hiệp Phát, tách cộng đoàn khỏi Giáo xứ Lâm Phát.
Cha Matthêu Nguyễn Văn Việt trở thành quản xứ tiên khởi. Khi được thiết lập, giáo xứ có khoảng 1.200 giáo dân.
Ngày thành lập trùng lễ kính hai Thánh Tông đồ Phêrô và Phaolô, cũng là bổn mạng của Hội đồng Giáo xứ. Năm 2023, cộng đoàn tổ chức Thánh lễ kỷ niệm hai năm ngày thiết lập giáo xứ, xác nhận rõ mốc 29/06/2021 trong lịch sử Hiệp Phát.
Từ đây, một cộng đoàn từng bắt đầu bằng nhà nguyện gỗ giữa vùng kinh tế mới chính thức trở thành một giáo xứ độc lập.
Bổn mạng của Giáo xứ Hiệp Phát là Thánh Anê Lê Thị Thành, còn được biết đến với tên bà Đê. Ngày kính bổn mạng của giáo xứ là 12/07.
Việc chọn Thánh Anê Đê làm bổn mạng tạo cho Hiệp Phát một nét riêng. Trong số 117 Thánh Tử đạo Việt Nam được tuyên thánh năm 1988, bà là người phụ nữ duy nhất. Bà là một người mẹ, một giáo dân bình thường nhưng đã chịu tử đạo vì đức tin vào năm 1841.
Tên Anê Đê vì vậy xuất hiện khá thường xuyên bên cạnh tên Hiệp Phát trong các tài liệu của Giáo phận. Khi xây dựng dữ liệu tìm kiếm, “Hiệp Phát – Anê Đê” nên được giữ như một cặp tên liên quan.
Hiệp Phát không hình thành từ một đoàn di dân duy nhất. Người dân đến đây từ nhiều vùng khác nhau như Nam Định, Ninh Bình, Thanh Hóa, Đồng Nai và các tỉnh miền Tây.
Họ gặp nhau trên một vùng đất mới của Lâm Đồng và cùng xây dựng cộng đồng. Chính đặc điểm ấy tạo nên diện mạo khá phổ biến của nhiều giáo xứ vùng Bảo Lộc – Bảo Lâm: tên giáo xứ còn trẻ nhưng bên trong là sự hội tụ của những truyền thống Công giáo từ nhiều miền quê khác nhau.
Theo thống kê của Giáo phận công bố năm 2024, Hiệp Phát có 171 gia đình với 1.077 giáo dân, trong đó 1.056 người Kinh và 21 người dân tộc bản địa. Danh mục Giáo hạt Bảo Lộc được cập nhật sau đó ghi nhận quy mô khoảng 1.220 giáo dân.
Những con số có thể thay đổi theo từng thời điểm, nhưng cho thấy Hiệp Phát hiện là một cộng đoàn quy mô vừa trong Giáo hạt Bảo Lộc.
Nhà thờ Hiệp Phát nằm trên tỉnh lộ 725, tuyến đường đi qua nhiều khu vực sản xuất nông nghiệp của Bảo Lâm và kết nối với vùng Di Linh.
Trước đây, địa chỉ nhà thờ được ghi là thôn 13, xã Lộc Ngãi, huyện Bảo Lâm, tỉnh Lâm Đồng. Giáo xứ nằm gần ranh giới khu vực Tân Lâm của Di Linh, vì vậy không gian mục vụ mang đặc điểm của vùng nông nghiệp trải rộng hơn là một cộng đồng đô thị tập trung.
Trên cùng vùng Lộc Ngãi trước đây còn có Lâm Phát và Lê Bảo Tịnh. Ba cộng đoàn này có quan hệ lịch sử khá chặt chẽ và cần được tách thành ba thực thể riêng trong hệ thống Mapstore.
Sau sắp xếp đơn vị hành chính năm 2025, thị trấn Lộc Thắng, xã Lộc Quảng và xã Lộc Ngãi được hợp nhất thành đơn vị mới mang tên xã Bảo Lâm 1, tỉnh Lâm Đồng.
Vì Nhà thờ Hiệp Phát trước đây nằm tại thôn 13, xã Lộc Ngãi nên địa chỉ hành chính hiện nay thuộc xã Bảo Lâm 1, tỉnh Lâm Đồng. Các hoạt động tại Giáo xứ Hiệp Phát trong năm 2026 cũng đã sử dụng địa danh xã Bảo Lâm 1.
Đối với Mapstore, lớp địa chỉ cũ thôn 13 – Lộc Ngãi – Bảo Lâm vẫn rất quan trọng vì xuất hiện trong toàn bộ lược sử của giáo xứ. Địa chỉ mới Bảo Lâm 1 – Lâm Đồng nên được sử dụng cho dữ liệu hiện hành, còn địa chỉ cũ được giữ để hỗ trợ tìm kiếm và đối chiếu lịch sử.
Hiệp Phát không có lịch sử hàng trăm năm. Câu chuyện nơi đây mới bắt đầu rõ nét từ những thập niên cuối thế kỷ XX.
Những gia đình từ Nam Định, Ninh Bình, Thanh Hóa, Đồng Nai và miền Tây đến vùng kinh tế mới. Năm 1987 có nhà nguyện gỗ. Hiệp Phát trở thành một giáo họ thuộc Lâm Phát. Năm 2015 đặt viên đá xây nhà thờ, năm 2019 cung hiến thánh đường và ngày 29/06/2021 chính thức trở thành giáo xứ.
Chỉ hơn ba thập niên từ một nhà nguyện bằng gỗ đến một giáo xứ độc lập là một khoảng thời gian không dài. Nhưng phía sau những mốc ấy là câu chuyện của nhiều gia đình rời quê, đến vùng cao nguyên làm kinh tế rồi cùng nhau dựng nên một cộng đồng mới.
Đó cũng là một phần lịch sử của Bảo Lâm: vùng đất mà nhiều cộng đồng được hình thành cùng những đợt di dân, khai phá và phát triển nông nghiệp trong những thập niên cuối thế kỷ XX.
Tên: Giáo xứ Hiệp Phát
Tên liên quan: Hiệp Phát – Anê Đê
Giáo hạt: Bảo Lộc
Giáo phận: Đà Lạt
Nguồn gốc cộng đoàn: Dân cư đến vùng kinh tế mới từ khoảng thập niên 1980
Nhà nguyện gỗ: Năm 1987
Giáo xứ mẹ: Giáo xứ Lâm Phát
Được phép xây nhà thờ kiên cố: Năm 2012
Đặt viên đá xây dựng: 12/07/2015
Cung hiến thánh đường: 04/11/2019
Thành lập giáo xứ: 29/06/2021
Giám mục thiết lập: Đức cha Đaminh Nguyễn Văn Mạnh
Quản xứ tiên khởi: Matthêu Nguyễn Văn Việt
Bổn mạng: Thánh Anê Lê Thị Thành – Anê Đê
Ngày kính bổn mạng: 12/07
Địa chỉ hiện nay: Khu vực thôn 13 Lộc Ngãi cũ, xã Bảo Lâm 1, tỉnh Lâm Đồng
Địa chỉ trước đây: Thôn 13, xã Lộc Ngãi, huyện Bảo Lâm, tỉnh Lâm Đồng
Trục giao thông: Tỉnh lộ 725
Loại hình: Giáo xứ Công giáo

Công ty TNHH iWater
122/6 Đặng Văn Ngữ, Phường Phú Nhuận, Thành phố Hồ Chí Minh

Công ty TNHH Rượu 5 Châu (Topruou.com)
1368/79/1/3 Lê Văn Lương, Xã Nhà Bè, Thành phố Hồ Chí Minh

Vựa Cá Thạch Nguyệt – Cửa hàng cá tươi tại phường Thới An, TP.HCM
193 Tô Ngọc Vân, Phường Thới An, Thành phố Hồ Chí Minh

MazLaw – Tổ chức đại diện sở hữu trí tuệ tại Hà Nội
430 Đê La Thành, Phường Ô Chợ Dừa, Thành phố Hà Nội

Văn phòng Luật sư Đặng Đình Ngọc – 27 Lê Văn Lương, Hà Nội
27 Lê Văn Lương, Phường Thanh Xuân, Thành phố Hà Nội

Nước mắm và hải sản khô Phước Hải – nghề từ những chuyến biển
Một chuyến biển không kết thúc khi ghe trở về bờ. Cá được gỡ khỏi lưới, phân loại và đưa đi tiêu thụ; phần khác tiếp tục bước vào một vòng đời mới qua bàn tay của những người ở lại trên đất liền. Cá được xẻ, ướp rồi phơi dưới nắng. Những mẻ cá khác được trộn với muối và đưa vào thùng ủ để sau nhiều tháng trở thành nước mắm. Từ nhu cầu bảo quản sản vật của biển, người Phước Hải đã hình thành những nghề chế biến gắn với làng cá qua nhiều thế hệ. Nước mắm và hải sản khô vì thế không chỉ là món quà người ta mua khi đến Phước Hải. Đằng sau chúng là một phần lịch sử sinh kế của cộng đồng sống bên biển.

Phước Hải đến Lộc An – hành trình tiếp tục về phía đông
Rời vùng làng biển Phước Hải tiếp tục theo dải ven biển về phía đông, cảnh quan dần thay đổi. Minh Đạm lùi lại phía sau, đường bờ mở rộng hơn và vùng đất phía trước tiến dần về hệ thống sông Ray. Ở cuối hành trình là Lộc An – một địa danh từng là xã ven biển độc lập, có cửa sông đổ ra Biển Đông và gắn với một bến quan trọng của Đường Hồ Chí Minh trên biển. Điều đặc biệt là sau những lần sắp xếp hành chính năm 2025, cả điểm xuất phát Phước Hải lẫn vùng Lộc An cũ ngày nay đều nằm trong cùng xã Phước Hải, Thành phố Hồ Chí Minh.

Long Hải đến Phước Hải – qua Kỳ Vân và Đèo Nước Ngọt
Từ Long Hải đi về phía đông, quãng đường sang Phước Hải không dài nhưng cảnh quan thay đổi khá rõ. Bãi biển dần khép lại khi núi tiến sát mặt nước, Mũi Kỳ Vân nhô ra phía biển và con đường phải uốn theo chân núi qua Đèo Nước Ngọt. Qua khỏi đoạn địa hình ấy, không gian lại mở ra với biển Phước Hải và một làng cá lâu đời dưới chân Minh Đạm. Vì vậy, hành trình Long Hải – Phước Hải không chỉ nối hai địa danh gần nhau; nó đi xuyên qua một đoạn bờ nơi núi, biển, đường sá và cộng đồng cư dân cùng tạo nên hình dáng của vùng đất.

Lễ hội Nghinh Ông Nam Hải – mùa lễ của ngư dân Phước Hải
Mỗi năm vào tháng Hai âm lịch, nhịp sống của làng biển Phước Hải có những ngày khác thường. Chiếc lưới vốn theo ngư dân ra biển bước vào những cuộc thi đan lưới, cột lưới; hình ảnh tôm cá xuất hiện trong đoàn diễn hành; còn những người cao niên của làng thực hiện nghi thức ra biển nghinh đón Ông Nam Hải về Dinh. Đó là Lễ hội Nghinh Ông Nam Hải – mùa lễ hình thành từ tín ngưỡng cá Ông, nhưng phía sau nghi lễ còn là câu chuyện về nghề biển, tiền hiền, cộng đồng và cách một làng cá gìn giữ ký ức của mình qua nhiều thế hệ.

Ngọc Lăng Nam Hải – nơi cá Ông được an táng bên biển Phước Hải
Sát bờ biển Phước Hải có một không gian rất khác với những bãi cát, ghe thuyền và khu dân cư thường thấy của một làng chài. Dưới những hàng dương là những ngôi mộ có bia ghi “Nam Hải chi mộ” – nơi người dân an táng những cá voi được kính gọi là cá Ông khi chúng lụy vào vùng biển này. Đó là Ngọc Lăng Nam Hải, một không gian tín ngưỡng đặc biệt được hình thành từ chính mối quan hệ lâu đời giữa cộng đồng ngư dân Phước Hải với biển.

Aultmore Distillery – Nhà chưng cất whisky giữa vùng Foggie Moss, Speyside, Scotland
Aultmore Distillery là nhà chưng cất Scotch whisky nằm gần thị trấn Keith, thuộc vùng Speyside của Scotland. Được Alexander Edward thành lập và bắt đầu sản xuất năm 1897, Aultmore đã tồn tại hơn 125 năm giữa một khu vực từ lâu gắn với nghề chưng cất whisky.

The Glenrothes Distillery – Nhà chưng cất Speyside từ năm 1879 tại Rothes, Scotland
The Glenrothes Distillery là nhà chưng cất Single Malt Scotch Whisky nằm tại Rothes, Moray, Scotland, ngay trung tâm vùng whisky Speyside. Được thành lập năm 1879, nhà chưng cất trải qua gần 150 năm phát triển và ngày nay là một trong những tên tuổi lâu đời gắn với thị trấn Rothes.

Stirling Distillery – Khi whisky trở lại dưới chân lâu đài Stirling sau hơn 170 năm
Ngay dưới chân Stirling Castle, giữa khu phố cổ mang đậm dấu ấn lịch sử Scotland, một nhà chưng cất nhỏ đang viết tiếp câu chuyện từng bị gián đoạn hơn một thế kỷ. Stirling Distillery không có quy mô lớn, nhưng vị trí, lịch sử và hành trình đưa whisky trở lại thành phố Stirling khiến nơi đây trở thành một điểm đáng chú ý trên bản đồ whisky Scotland.

Kininvie Distillery – Nhà chưng cất Speyside kín tiếng của William Grant & Sons
Kininvie Distillery là nhà chưng cất Single Malt Scotch Whisky nằm tại Dufftown, Moray, Scotland, thuộc vùng whisky Speyside. Được William Grant & Sons xây dựng năm 1990, Kininvie có vị trí đặc biệt khi nằm ngay trong khu vực của The Balvenie Distillery và gần Glenfiddich – hai nhà chưng cất nổi tiếng cùng thuộc tập đoàn gia đình William Grant & Sons.

Auchentoshan Distillery – Nhà chưng cất whisky Lowland hơn 200 năm bên Glasgow, Scotland
Auchentoshan Distillery là nhà chưng cất Scotch whisky nằm tại Clydebank, ở phía tây bắc Glasgow, Scotland. Nhà chưng cất có lịch sử chính thức từ năm 1823 và ngày nay được biết đến đặc biệt với phương pháp chưng cất ba lần – Triple Distillation, tạo nên phong cách nhẹ, tươi và mềm mại đặc trưng của Auchentoshan Single Malt Scotch Whisky.

Một chuyến biển không kết thúc khi ghe trở về bờ. Cá được gỡ khỏi lưới, phân loại và đưa đi tiêu thụ; phần khác tiếp tục bước vào một vòng đời mới qua bàn tay của những người ở lại trên đất liền. Cá được xẻ, ướp rồi phơi dưới nắng. Những mẻ cá khác được trộn với muối và đưa vào thùng ủ để sau nhiều tháng trở thành nước mắm. Từ nhu cầu bảo quản sản vật của biển, người Phước Hải đã hình thành những nghề chế biến gắn với làng cá qua nhiều thế hệ. Nước mắm và hải sản khô vì thế không chỉ là món quà người ta mua khi đến Phước Hải. Đằng sau chúng là một phần lịch sử sinh kế của cộng đồng sống bên biển.

Rời vùng làng biển Phước Hải tiếp tục theo dải ven biển về phía đông, cảnh quan dần thay đổi. Minh Đạm lùi lại phía sau, đường bờ mở rộng hơn và vùng đất phía trước tiến dần về hệ thống sông Ray. Ở cuối hành trình là Lộc An – một địa danh từng là xã ven biển độc lập, có cửa sông đổ ra Biển Đông và gắn với một bến quan trọng của Đường Hồ Chí Minh trên biển. Điều đặc biệt là sau những lần sắp xếp hành chính năm 2025, cả điểm xuất phát Phước Hải lẫn vùng Lộc An cũ ngày nay đều nằm trong cùng xã Phước Hải, Thành phố Hồ Chí Minh.

Từ Long Hải đi về phía đông, quãng đường sang Phước Hải không dài nhưng cảnh quan thay đổi khá rõ. Bãi biển dần khép lại khi núi tiến sát mặt nước, Mũi Kỳ Vân nhô ra phía biển và con đường phải uốn theo chân núi qua Đèo Nước Ngọt. Qua khỏi đoạn địa hình ấy, không gian lại mở ra với biển Phước Hải và một làng cá lâu đời dưới chân Minh Đạm. Vì vậy, hành trình Long Hải – Phước Hải không chỉ nối hai địa danh gần nhau; nó đi xuyên qua một đoạn bờ nơi núi, biển, đường sá và cộng đồng cư dân cùng tạo nên hình dáng của vùng đất.

Mỗi năm vào tháng Hai âm lịch, nhịp sống của làng biển Phước Hải có những ngày khác thường. Chiếc lưới vốn theo ngư dân ra biển bước vào những cuộc thi đan lưới, cột lưới; hình ảnh tôm cá xuất hiện trong đoàn diễn hành; còn những người cao niên của làng thực hiện nghi thức ra biển nghinh đón Ông Nam Hải về Dinh. Đó là Lễ hội Nghinh Ông Nam Hải – mùa lễ hình thành từ tín ngưỡng cá Ông, nhưng phía sau nghi lễ còn là câu chuyện về nghề biển, tiền hiền, cộng đồng và cách một làng cá gìn giữ ký ức của mình qua nhiều thế hệ.

Sát bờ biển Phước Hải có một không gian rất khác với những bãi cát, ghe thuyền và khu dân cư thường thấy của một làng chài. Dưới những hàng dương là những ngôi mộ có bia ghi “Nam Hải chi mộ” – nơi người dân an táng những cá voi được kính gọi là cá Ông khi chúng lụy vào vùng biển này. Đó là Ngọc Lăng Nam Hải, một không gian tín ngưỡng đặc biệt được hình thành từ chính mối quan hệ lâu đời giữa cộng đồng ngư dân Phước Hải với biển.

Ở một làng biển, niềm tin thường bắt đầu từ những điều rất gần với đời sống. Với ngư dân Phước Hải, biển mang lại nguồn sống nhưng cũng là nơi con người phải đối diện với sóng gió và những bất trắc ngoài khơi. Từ trải nghiệm ấy, cá voi được kính gọi là cá Ông, được xem như vị thần hộ mệnh của người đi biển. Dinh Ông Nam Hải là một trong những nơi cộng đồng gửi gắm niềm tin đó, đồng thời là mắt xích quan trọng trong không gian tín ngưỡng nối Dinh Ông, Ngọc Lăng và Lễ hội Nghinh Ông của làng biển Phước Hải.

Trước khi có tên Phước Hải, vùng làng biển dưới chân Minh Đạm từng được biết đến với một cái tên rất gần với nghề nghiệp của cư dân: Lưới Rê. Từ một xóm chài hình thành bên biển, tên Lưới Rê đi qua lớp tên Hải Chữ rồi bước vào Phước Hải thôn vào đầu thế kỷ XIX. Những tên gọi ấy không chỉ cho biết một địa danh đã thay đổi như thế nào. Chúng còn lưu lại dấu vết về quá trình tụ cư, sinh kế và cách một cộng đồng nghề biển từng bước tạo dựng vùng đất mà ngày nay chúng ta gọi là Phước Hải.

Khi trời còn sớm, bờ biển Phước Hải đã bắt đầu một nhịp sống khác với hình ảnh của một vùng nghỉ dưỡng. Ghe thuyền trở về, cá được đưa lên bờ, lưới được gỡ, hải sản được phân loại trước khi đi vào chợ, các cơ sở chế biến hoặc những sân phơi. Nhịp sống ấy đã tồn tại qua nhiều thế hệ và tạo nên Làng chài Phước Hải – một cộng đồng ven biển dưới chân Minh Đạm, nơi lịch sử của vùng đất gắn chặt với nghề đánh bắt, chế biến hải sản và những tín ngưỡng hình thành từ cuộc sống ngoài khơi.

Từ Đèo Nước Ngọt đi về phía đông, đường bờ mở ra sau đoạn núi tiến sát mặt nước ở Kỳ Vân. Phía trước là biển, phía sau vẫn còn đường nền của hệ núi Minh Đạm, còn ở khoảng giữa là một cộng đồng đã sống bằng nghề biển qua nhiều thế hệ. Bãi biển Phước Hải nằm trong chính không gian ấy. Vì vậy, đây không chỉ là một bãi tắm trên tuyến ven biển, mà còn là nơi cảnh quan tự nhiên và đời sống của làng cá Phước Hải gặp nhau mỗi ngày.