Đang tải bài viết…
Đang tải bài viết…
Long Hải không chỉ là một bãi biển nằm gần Vũng Tàu. Vùng đất này hình thành trong khoảng không gian nơi núi tiến gần xuống biển, phía trước là những bãi cát và làng biển, phía sau là dãy Minh Đạm. Trên nền địa hình ấy, nhiều thế hệ cư dân đã sống bằng nghề biển, hình thành tín ngưỡng Dinh Cô và để lại những lớp ký ức gắn với cả biển lẫn núi.
Long Hải nằm trên dải ven biển phía đông Vũng Tàu. Theo đơn vị hành chính hiện hành năm 2026, địa danh này thuộc xã Long Hải, Thành phố Hồ Chí Minh. Xã Long Hải hiện nay có phạm vi rộng hơn Long Hải trong cách gọi truyền thống, do được hình thành từ quỹ địa bàn của thị trấn Long Hải cùng Phước Hưng và Phước Tỉnh trước đây.
Nhưng trong ký ức địa phương và cách gọi về vùng biển, Long Hải vẫn gắn trước hết với một không gian khá đặc biệt: phía trước là biển, phía sau là núi.
Dãy Minh Đạm kéo dài gần đường bờ, có những đoạn sườn núi tiến sát xuống biển. Giữa chân núi và mặt nước là những bãi cát, mũi đá, khu dân cư và các con đường men theo địa hình tự nhiên.
Chính sự gần nhau giữa núi và biển tạo nên hình dáng riêng của Long Hải.
Ở đây, người ta không chỉ nhìn thấy biển theo một đường chân trời rộng. Quay lại phía sau đã có núi; đi dọc bờ biển, cảnh quan liên tục chuyển từ bãi cát sang mũi đá, sườn núi rồi lại mở ra những khoảng biển khác.
Mối quan hệ ấy cũng giải thích vì sao nhiều địa danh quan trọng của Long Hải đều nằm trên ranh giới giữa hai không gian này.
Trước khi Long Hải được biết đến như một vùng nghỉ dưỡng, biển đã là không gian mưu sinh của cư dân địa phương.
Những cộng đồng ngư dân hình thành dọc bờ, đưa thuyền ra biển rồi trở về với cá, mực và các loại hải sản. Công việc trên biển kéo theo nhiều hoạt động trên bờ: chuẩn bị ngư cụ, sửa lưới, mua bán hải sản và những sinh hoạt gia đình gắn với từng chuyến đi.
Dấu ấn ấy vẫn hiện diện trong Long Hải ngày nay. Các tài liệu chính thức năm 2026 tiếp tục ghi nhận Long Hải là một địa bàn có đông ngư dân đi biển, cho thấy nghề biển không chỉ thuộc về ký ức của vùng đất.
Từ đời sống ấy cũng hình thành một thế giới tinh thần riêng.
Người đi biển phải đối diện với thời tiết, sóng gió và những bất trắc khó đoán định. Mong ước chuyến đi bình an, ghe thuyền trở về và mùa biển thuận lợi dần đi vào tín ngưỡng của cộng đồng.
Ở Long Hải, một trong những biểu hiện rõ nhất của lớp văn hóa ấy là câu chuyện Dinh Cô.
Một người con gái trong truyền thuyết dân gian, một ngôi mộ bên biển rồi một nơi thờ tự được cộng đồng gìn giữ qua nhiều thế hệ đã dần trở thành một phần bản sắc của vùng đất. Từ đó, Dinh Cô và lễ hội quanh Dinh không đứng ngoài đời sống của làng biển mà lớn lên ngay trong đời sống ấy.
Nếu biển kể câu chuyện về sinh kế và tín ngưỡng thì dãy Minh Đạm lại mở ra một lớp khác của Long Hải.
Những khối núi đá nằm gần biển tạo nên một đường nền tự nhiên phía sau vùng dân cư. Qua nhiều thời kỳ, hệ núi này được biết đến bằng những tên gọi và phạm vi địa danh khác nhau; Minh Đạm là tên quen thuộc ngày nay và cũng gắn với một giai đoạn lịch sử đặc biệt của vùng đất.
Địa hình núi đá, hang động, rừng cây và vị trí có thể quan sát vùng xung quanh đã khiến nơi đây trở thành căn cứ trong các cuộc kháng chiến. Từ một thực thể tự nhiên, Minh Đạm vì thế còn trở thành một không gian lưu giữ ký ức lịch sử.
Nhưng ảnh hưởng của núi đối với Long Hải không chỉ nằm trong câu chuyện chiến tranh.
Đi dọc bờ biển có thể thấy chính địa hình núi đã góp phần chia đường bờ thành nhiều khoảng khác nhau. Ở phía đông, tuyến đường tiếp tục men dưới chân núi, đi qua khu vực Đèo Nước Ngọt và hướng về Phước Hải. Núi lúc gần, lúc lùi khỏi mặt nước, khiến cảnh quan thay đổi chỉ trong một hành trình tương đối ngắn.
Bởi vậy, muốn hiểu Long Hải chỉ từ bãi biển là chưa đủ. Phần đất phía sau bờ biển cũng quan trọng không kém phần nước phía trước.
Ngày nay, Long Hải có thêm khách sạn, khu nghỉ dưỡng, nhà hàng và những dịch vụ phục vụ người đến biển. Trong quy hoạch du lịch quốc gia, Long Hải – Bình Châu cũng được xác định là một trong những địa điểm tiềm năng phát triển khu du lịch quốc gia của vùng Đông Nam Bộ.
Nhưng phía sau lớp không gian nghỉ dưỡng ấy vẫn có thể nhận ra cấu trúc đã làm nên vùng đất từ lâu.
Biển vẫn là nơi những con thuyền đi và về. Dinh Cô vẫn gắn với đời sống tín ngưỡng của cộng đồng. Minh Đạm vẫn nằm phía sau vùng dân cư. Con đường ven biển tiếp tục men theo chân núi về phía Đèo Nước Ngọt và Phước Hải.
Những yếu tố ấy không tồn tại riêng biệt.
Núi tạo nên hình dáng của bờ biển. Biển tạo nên sinh kế. Sinh kế hình thành cộng đồng, còn đời sống của cộng đồng lại tạo nên tín ngưỡng và ký ức của vùng đất.
Vì vậy, Long Hải có thể được nhìn như một vùng nghỉ dưỡng ven biển, nhưng câu chuyện của nơi này bắt đầu từ trước khi những khu nghỉ dưỡng xuất hiện.
Đó là câu chuyện của một vùng đất nằm giữa núi và biển, nơi con người đã sống cùng cả hai trong nhiều thế hệ và để lại dấu ấn của mình trên từng lớp cảnh quan.

Công ty TNHH iWater
122/6 Đặng Văn Ngữ, Phường Phú Nhuận, Thành phố Hồ Chí Minh

Công ty TNHH Rượu 5 Châu (Topruou.com)
1368/79/1/3 Lê Văn Lương, Xã Nhà Bè, Thành phố Hồ Chí Minh

Vựa Cá Thạch Nguyệt – Cửa hàng cá tươi tại phường Thới An, TP.HCM
193 Tô Ngọc Vân, Phường Thới An, Thành phố Hồ Chí Minh

MazLaw – Tổ chức đại diện sở hữu trí tuệ tại Hà Nội
430 Đê La Thành, Phường Ô Chợ Dừa, Thành phố Hà Nội

Văn phòng Luật sư Đặng Đình Ngọc – 27 Lê Văn Lương, Hà Nội
27 Lê Văn Lương, Phường Thanh Xuân, Thành phố Hà Nội

Nước mắm và hải sản khô Phước Hải – nghề từ những chuyến biển
Một chuyến biển không kết thúc khi ghe trở về bờ. Cá được gỡ khỏi lưới, phân loại và đưa đi tiêu thụ; phần khác tiếp tục bước vào một vòng đời mới qua bàn tay của những người ở lại trên đất liền. Cá được xẻ, ướp rồi phơi dưới nắng. Những mẻ cá khác được trộn với muối và đưa vào thùng ủ để sau nhiều tháng trở thành nước mắm. Từ nhu cầu bảo quản sản vật của biển, người Phước Hải đã hình thành những nghề chế biến gắn với làng cá qua nhiều thế hệ. Nước mắm và hải sản khô vì thế không chỉ là món quà người ta mua khi đến Phước Hải. Đằng sau chúng là một phần lịch sử sinh kế của cộng đồng sống bên biển.

Phước Hải đến Lộc An – hành trình tiếp tục về phía đông
Rời vùng làng biển Phước Hải tiếp tục theo dải ven biển về phía đông, cảnh quan dần thay đổi. Minh Đạm lùi lại phía sau, đường bờ mở rộng hơn và vùng đất phía trước tiến dần về hệ thống sông Ray. Ở cuối hành trình là Lộc An – một địa danh từng là xã ven biển độc lập, có cửa sông đổ ra Biển Đông và gắn với một bến quan trọng của Đường Hồ Chí Minh trên biển. Điều đặc biệt là sau những lần sắp xếp hành chính năm 2025, cả điểm xuất phát Phước Hải lẫn vùng Lộc An cũ ngày nay đều nằm trong cùng xã Phước Hải, Thành phố Hồ Chí Minh.

Long Hải đến Phước Hải – qua Kỳ Vân và Đèo Nước Ngọt
Từ Long Hải đi về phía đông, quãng đường sang Phước Hải không dài nhưng cảnh quan thay đổi khá rõ. Bãi biển dần khép lại khi núi tiến sát mặt nước, Mũi Kỳ Vân nhô ra phía biển và con đường phải uốn theo chân núi qua Đèo Nước Ngọt. Qua khỏi đoạn địa hình ấy, không gian lại mở ra với biển Phước Hải và một làng cá lâu đời dưới chân Minh Đạm. Vì vậy, hành trình Long Hải – Phước Hải không chỉ nối hai địa danh gần nhau; nó đi xuyên qua một đoạn bờ nơi núi, biển, đường sá và cộng đồng cư dân cùng tạo nên hình dáng của vùng đất.

Lễ hội Nghinh Ông Nam Hải – mùa lễ của ngư dân Phước Hải
Mỗi năm vào tháng Hai âm lịch, nhịp sống của làng biển Phước Hải có những ngày khác thường. Chiếc lưới vốn theo ngư dân ra biển bước vào những cuộc thi đan lưới, cột lưới; hình ảnh tôm cá xuất hiện trong đoàn diễn hành; còn những người cao niên của làng thực hiện nghi thức ra biển nghinh đón Ông Nam Hải về Dinh. Đó là Lễ hội Nghinh Ông Nam Hải – mùa lễ hình thành từ tín ngưỡng cá Ông, nhưng phía sau nghi lễ còn là câu chuyện về nghề biển, tiền hiền, cộng đồng và cách một làng cá gìn giữ ký ức của mình qua nhiều thế hệ.

Ngọc Lăng Nam Hải – nơi cá Ông được an táng bên biển Phước Hải
Sát bờ biển Phước Hải có một không gian rất khác với những bãi cát, ghe thuyền và khu dân cư thường thấy của một làng chài. Dưới những hàng dương là những ngôi mộ có bia ghi “Nam Hải chi mộ” – nơi người dân an táng những cá voi được kính gọi là cá Ông khi chúng lụy vào vùng biển này. Đó là Ngọc Lăng Nam Hải, một không gian tín ngưỡng đặc biệt được hình thành từ chính mối quan hệ lâu đời giữa cộng đồng ngư dân Phước Hải với biển.

Aultmore Distillery – Nhà chưng cất whisky giữa vùng Foggie Moss, Speyside, Scotland
Aultmore Distillery là nhà chưng cất Scotch whisky nằm gần thị trấn Keith, thuộc vùng Speyside của Scotland. Được Alexander Edward thành lập và bắt đầu sản xuất năm 1897, Aultmore đã tồn tại hơn 125 năm giữa một khu vực từ lâu gắn với nghề chưng cất whisky.

The Glenrothes Distillery – Nhà chưng cất Speyside từ năm 1879 tại Rothes, Scotland
The Glenrothes Distillery là nhà chưng cất Single Malt Scotch Whisky nằm tại Rothes, Moray, Scotland, ngay trung tâm vùng whisky Speyside. Được thành lập năm 1879, nhà chưng cất trải qua gần 150 năm phát triển và ngày nay là một trong những tên tuổi lâu đời gắn với thị trấn Rothes.

Stirling Distillery – Khi whisky trở lại dưới chân lâu đài Stirling sau hơn 170 năm
Ngay dưới chân Stirling Castle, giữa khu phố cổ mang đậm dấu ấn lịch sử Scotland, một nhà chưng cất nhỏ đang viết tiếp câu chuyện từng bị gián đoạn hơn một thế kỷ. Stirling Distillery không có quy mô lớn, nhưng vị trí, lịch sử và hành trình đưa whisky trở lại thành phố Stirling khiến nơi đây trở thành một điểm đáng chú ý trên bản đồ whisky Scotland.

Kininvie Distillery – Nhà chưng cất Speyside kín tiếng của William Grant & Sons
Kininvie Distillery là nhà chưng cất Single Malt Scotch Whisky nằm tại Dufftown, Moray, Scotland, thuộc vùng whisky Speyside. Được William Grant & Sons xây dựng năm 1990, Kininvie có vị trí đặc biệt khi nằm ngay trong khu vực của The Balvenie Distillery và gần Glenfiddich – hai nhà chưng cất nổi tiếng cùng thuộc tập đoàn gia đình William Grant & Sons.

Auchentoshan Distillery – Nhà chưng cất whisky Lowland hơn 200 năm bên Glasgow, Scotland
Auchentoshan Distillery là nhà chưng cất Scotch whisky nằm tại Clydebank, ở phía tây bắc Glasgow, Scotland. Nhà chưng cất có lịch sử chính thức từ năm 1823 và ngày nay được biết đến đặc biệt với phương pháp chưng cất ba lần – Triple Distillation, tạo nên phong cách nhẹ, tươi và mềm mại đặc trưng của Auchentoshan Single Malt Scotch Whisky.

Một chuyến biển không kết thúc khi ghe trở về bờ. Cá được gỡ khỏi lưới, phân loại và đưa đi tiêu thụ; phần khác tiếp tục bước vào một vòng đời mới qua bàn tay của những người ở lại trên đất liền. Cá được xẻ, ướp rồi phơi dưới nắng. Những mẻ cá khác được trộn với muối và đưa vào thùng ủ để sau nhiều tháng trở thành nước mắm. Từ nhu cầu bảo quản sản vật của biển, người Phước Hải đã hình thành những nghề chế biến gắn với làng cá qua nhiều thế hệ. Nước mắm và hải sản khô vì thế không chỉ là món quà người ta mua khi đến Phước Hải. Đằng sau chúng là một phần lịch sử sinh kế của cộng đồng sống bên biển.

Rời vùng làng biển Phước Hải tiếp tục theo dải ven biển về phía đông, cảnh quan dần thay đổi. Minh Đạm lùi lại phía sau, đường bờ mở rộng hơn và vùng đất phía trước tiến dần về hệ thống sông Ray. Ở cuối hành trình là Lộc An – một địa danh từng là xã ven biển độc lập, có cửa sông đổ ra Biển Đông và gắn với một bến quan trọng của Đường Hồ Chí Minh trên biển. Điều đặc biệt là sau những lần sắp xếp hành chính năm 2025, cả điểm xuất phát Phước Hải lẫn vùng Lộc An cũ ngày nay đều nằm trong cùng xã Phước Hải, Thành phố Hồ Chí Minh.

Từ Long Hải đi về phía đông, quãng đường sang Phước Hải không dài nhưng cảnh quan thay đổi khá rõ. Bãi biển dần khép lại khi núi tiến sát mặt nước, Mũi Kỳ Vân nhô ra phía biển và con đường phải uốn theo chân núi qua Đèo Nước Ngọt. Qua khỏi đoạn địa hình ấy, không gian lại mở ra với biển Phước Hải và một làng cá lâu đời dưới chân Minh Đạm. Vì vậy, hành trình Long Hải – Phước Hải không chỉ nối hai địa danh gần nhau; nó đi xuyên qua một đoạn bờ nơi núi, biển, đường sá và cộng đồng cư dân cùng tạo nên hình dáng của vùng đất.

Mỗi năm vào tháng Hai âm lịch, nhịp sống của làng biển Phước Hải có những ngày khác thường. Chiếc lưới vốn theo ngư dân ra biển bước vào những cuộc thi đan lưới, cột lưới; hình ảnh tôm cá xuất hiện trong đoàn diễn hành; còn những người cao niên của làng thực hiện nghi thức ra biển nghinh đón Ông Nam Hải về Dinh. Đó là Lễ hội Nghinh Ông Nam Hải – mùa lễ hình thành từ tín ngưỡng cá Ông, nhưng phía sau nghi lễ còn là câu chuyện về nghề biển, tiền hiền, cộng đồng và cách một làng cá gìn giữ ký ức của mình qua nhiều thế hệ.

Sát bờ biển Phước Hải có một không gian rất khác với những bãi cát, ghe thuyền và khu dân cư thường thấy của một làng chài. Dưới những hàng dương là những ngôi mộ có bia ghi “Nam Hải chi mộ” – nơi người dân an táng những cá voi được kính gọi là cá Ông khi chúng lụy vào vùng biển này. Đó là Ngọc Lăng Nam Hải, một không gian tín ngưỡng đặc biệt được hình thành từ chính mối quan hệ lâu đời giữa cộng đồng ngư dân Phước Hải với biển.

Ở một làng biển, niềm tin thường bắt đầu từ những điều rất gần với đời sống. Với ngư dân Phước Hải, biển mang lại nguồn sống nhưng cũng là nơi con người phải đối diện với sóng gió và những bất trắc ngoài khơi. Từ trải nghiệm ấy, cá voi được kính gọi là cá Ông, được xem như vị thần hộ mệnh của người đi biển. Dinh Ông Nam Hải là một trong những nơi cộng đồng gửi gắm niềm tin đó, đồng thời là mắt xích quan trọng trong không gian tín ngưỡng nối Dinh Ông, Ngọc Lăng và Lễ hội Nghinh Ông của làng biển Phước Hải.

Trước khi có tên Phước Hải, vùng làng biển dưới chân Minh Đạm từng được biết đến với một cái tên rất gần với nghề nghiệp của cư dân: Lưới Rê. Từ một xóm chài hình thành bên biển, tên Lưới Rê đi qua lớp tên Hải Chữ rồi bước vào Phước Hải thôn vào đầu thế kỷ XIX. Những tên gọi ấy không chỉ cho biết một địa danh đã thay đổi như thế nào. Chúng còn lưu lại dấu vết về quá trình tụ cư, sinh kế và cách một cộng đồng nghề biển từng bước tạo dựng vùng đất mà ngày nay chúng ta gọi là Phước Hải.

Khi trời còn sớm, bờ biển Phước Hải đã bắt đầu một nhịp sống khác với hình ảnh của một vùng nghỉ dưỡng. Ghe thuyền trở về, cá được đưa lên bờ, lưới được gỡ, hải sản được phân loại trước khi đi vào chợ, các cơ sở chế biến hoặc những sân phơi. Nhịp sống ấy đã tồn tại qua nhiều thế hệ và tạo nên Làng chài Phước Hải – một cộng đồng ven biển dưới chân Minh Đạm, nơi lịch sử của vùng đất gắn chặt với nghề đánh bắt, chế biến hải sản và những tín ngưỡng hình thành từ cuộc sống ngoài khơi.

Từ Đèo Nước Ngọt đi về phía đông, đường bờ mở ra sau đoạn núi tiến sát mặt nước ở Kỳ Vân. Phía trước là biển, phía sau vẫn còn đường nền của hệ núi Minh Đạm, còn ở khoảng giữa là một cộng đồng đã sống bằng nghề biển qua nhiều thế hệ. Bãi biển Phước Hải nằm trong chính không gian ấy. Vì vậy, đây không chỉ là một bãi tắm trên tuyến ven biển, mà còn là nơi cảnh quan tự nhiên và đời sống của làng cá Phước Hải gặp nhau mỗi ngày.