Đang tải bài viết…
Đang tải bài viết…
Cách Dinh Cô khoảng một kilômét về phía đông, Mộ Cô nằm trên đồi Cô Sơn với ba mặt hướng ra biển. Nếu Dinh Cô là nơi tín ngưỡng về Bà Cô được cộng đồng gìn giữ và phát triển thành một không gian thờ tự, thì Mộ Cô đưa câu chuyện trở về điểm khởi đầu: nơi người dân Long Hải tin rằng một người con gái tử nạn trên biển đã được đưa vào bờ và an táng. Từ một ngôi mộ bên biển, ký ức dân gian dần trở thành một phần đời sống tinh thần của nhiều thế hệ cư dân.
Mộ Cô nằm trên đồi Cô Sơn, ba mặt giáp biển và cách điện thờ Dinh Cô khoảng 1 km về phía đông. Vị trí này khiến Mộ Cô và Dinh Cô tuy cùng thuộc một quần thể tín ngưỡng nhưng là hai thực thể khác nhau về không gian.
Khu vực này ngày nay thuộc xã Long Hải, Thành phố Hồ Chí Minh. Trước các đợt sắp xếp đơn vị hành chính, địa danh Long Hải từng được biết đến với địa chỉ thị trấn Long Hải, huyện Long Điền, sau đó thuộc huyện Long Đất, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu. Việc ghi lại các lớp địa chỉ cũ giúp nhận diện đúng một địa danh đã xuất hiện từ lâu trong tài liệu, bản đồ và ký ức của người dân.
Khác với Dinh Cô nằm gần khu dân cư và bãi biển Long Hải, Mộ Cô gắn với một khoảng đất cao hướng ra mặt nước. Tư liệu địa phương mô tả đây chính là nơi người dân an táng người con gái trong truyền thuyết sau khi thi thể được tìm thấy bên bờ biển.
Biển vì thế luôn nằm trong câu chuyện của ngôi mộ. Từ vị trí Cô Sơn nhìn ra mặt nước, có thể nhận ra mối liên hệ rất trực tiếp giữa nơi an táng, vùng biển xảy ra câu chuyện và cộng đồng đã gìn giữ ký ức ấy qua nhiều thế hệ.
Không có một phiên bản duy nhất về lai lịch Bà Cô.
Các tư liệu hiện còn lưu nhiều dị bản khác nhau. Có câu chuyện cho rằng Cô là một thiếu nữ theo cha đi thuyền vào phương Nam rồi gặp nạn tại vùng biển Long Hải. Một truyền tích khác liên hệ Cô với gia đình một nghĩa sĩ Tây Sơn. Ngay tên của Cô trong các nguồn cũng có những cách ghi khác nhau như Lê Thị Hồng, Lê Thị Hồng Thủy hay tên gọi Thị Cách.
Vì vậy, khi kể về Mộ Cô, điều quan trọng không phải cố gắng biến một dị bản thành sự kiện lịch sử đã được xác nhận.
Điểm chung xuyên qua những cách kể là hình ảnh một người con gái trẻ mất trên biển, thi thể dạt vào vùng Long Hải, được cư dân địa phương chôn cất và về sau được tin là linh ứng. Chính phần ký ức chung ấy đã tồn tại lâu dài trong cộng đồng.
Theo một truyền tích phổ biến tại địa phương, sau khi Cô được an táng, người dân bắt đầu truyền nhau những câu chuyện về sự che chở và phù trợ. Người đi biển đến cầu nguyện trước những chuyến ra khơi; khi trở về bình an hoặc gặp điều thuận lợi, họ lại đến dâng lễ tạ ơn. Niềm tin được truyền từ người này sang người khác và từ thế hệ này sang thế hệ khác.
Một ngôi mộ vì thế dần mang ý nghĩa vượt khỏi nơi an táng của một cá nhân.
Mộ Cô giúp giải thích vì sao trong cùng một tín ngưỡng lại tồn tại hai địa điểm cách nhau khoảng một kilômét.
Mộ là nơi gắn với câu chuyện an táng. Dinh là nơi cộng đồng xây dựng không gian thờ tự.
Theo những tư liệu về Dinh Cô, nơi thờ Cô ban đầu chỉ là một am hoặc miếu nhỏ. Qua thời gian, tín ngưỡng phát triển cùng cộng đồng và công trình thờ tự được mở rộng, trở thành Dinh Cô ngày nay.
Hai nơi vì vậy đảm nhận hai lớp ký ức khác nhau.
Đến Dinh Cô, người ta bước vào một không gian tín ngưỡng đã được cộng đồng tổ chức với điện thờ, hệ thống thần linh và những nghi lễ được duy trì qua nhiều thế hệ. Đến Mộ Cô, câu chuyện trở nên gần với nguồn gốc dân gian hơn: một ngôi mộ trên đồi cát bên vùng biển nơi Cô được cho là đã trôi dạt vào bờ.
Trong những ngày diễn ra lễ hội, mối liên hệ giữa hai địa điểm càng thể hiện rõ. Mộ Cô là một trong những nơi người dân và khách hành hương đến viếng trong hành trình gắn với Dinh Cô.
Bởi vậy, tách Mộ Cô khỏi Dinh Cô trên bản đồ không có nghĩa tách hai câu chuyện. Ngược lại, chính khoảng cách giữa hai địa điểm giúp nhìn rõ quá trình từ một ngôi mộ → niềm tin dân gian → nơi thờ tự → lễ hội cộng đồng.
Giá trị của Mộ Cô không nằm ở quy mô kiến trúc.
Điều đáng chú ý hơn là cách một địa điểm nhỏ có thể tồn tại trong ký ức của cả cộng đồng suốt nhiều thế hệ.
Long Hải vốn là vùng đất hướng ra biển. Những chuyến đi biển mang lại sinh kế nhưng cũng luôn đi cùng những bất trắc của sóng gió. Trong môi trường ấy, câu chuyện về một người con gái mất ngoài biển rồi trở thành vị thần che chở cho ngư dân tìm được chỗ đứng trong đời sống tinh thần của cư dân địa phương.
Niềm tin ấy không dừng lại ở Mộ Cô.
Nó tiếp tục ở Dinh Cô và được cộng đồng tái hiện qua Lễ hội Dinh Cô. Lễ hội ngày nay đã được ghi danh vào Danh mục Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia, với những nghi thức liên quan đến Cô, Ông Nam Hải và các vị thần biển.
Nhìn theo chiều ngược lại, từ lễ hội đông người trở về ngôi mộ trên Cô Sơn, có thể thấy câu chuyện đã bắt đầu từ một điều rất giản dị.
Một người gặp nạn trên biển. Người dân đưa vào bờ và chôn cất. Một ngôi mộ được gìn giữ. Những câu chuyện được truyền lại. Rồi qua nhiều thế hệ, ký ức ấy trở thành tín ngưỡng của cả một vùng biển.
Mộ Cô vì thế là một mắt xích nhỏ nhưng quan trọng để hiểu Long Hải: nơi ranh giới giữa một câu chuyện dân gian, ký ức cộng đồng và đời sống tín ngưỡng đã dần hòa vào nhau.
Mapstore tổng hợp, đối chiếu và biên tập từ nhiều nguồn tư liệu. Cập nhật: 20/09/2026.

Công ty TNHH iWater
122/6 Đặng Văn Ngữ, Phường Phú Nhuận, Thành phố Hồ Chí Minh

Công ty TNHH Rượu 5 Châu (Topruou.com)
1368/79/1/3 Lê Văn Lương, Xã Nhà Bè, Thành phố Hồ Chí Minh

Vựa Cá Thạch Nguyệt – Cửa hàng cá tươi tại phường Thới An, TP.HCM
193 Tô Ngọc Vân, Phường Thới An, Thành phố Hồ Chí Minh

MazLaw – Tổ chức đại diện sở hữu trí tuệ tại Hà Nội
430 Đê La Thành, Phường Ô Chợ Dừa, Thành phố Hà Nội

Văn phòng Luật sư Đặng Đình Ngọc – 27 Lê Văn Lương, Hà Nội
27 Lê Văn Lương, Phường Thanh Xuân, Thành phố Hà Nội

Nước mắm và hải sản khô Phước Hải – nghề từ những chuyến biển
Một chuyến biển không kết thúc khi ghe trở về bờ. Cá được gỡ khỏi lưới, phân loại và đưa đi tiêu thụ; phần khác tiếp tục bước vào một vòng đời mới qua bàn tay của những người ở lại trên đất liền. Cá được xẻ, ướp rồi phơi dưới nắng. Những mẻ cá khác được trộn với muối và đưa vào thùng ủ để sau nhiều tháng trở thành nước mắm. Từ nhu cầu bảo quản sản vật của biển, người Phước Hải đã hình thành những nghề chế biến gắn với làng cá qua nhiều thế hệ. Nước mắm và hải sản khô vì thế không chỉ là món quà người ta mua khi đến Phước Hải. Đằng sau chúng là một phần lịch sử sinh kế của cộng đồng sống bên biển.

Phước Hải đến Lộc An – hành trình tiếp tục về phía đông
Rời vùng làng biển Phước Hải tiếp tục theo dải ven biển về phía đông, cảnh quan dần thay đổi. Minh Đạm lùi lại phía sau, đường bờ mở rộng hơn và vùng đất phía trước tiến dần về hệ thống sông Ray. Ở cuối hành trình là Lộc An – một địa danh từng là xã ven biển độc lập, có cửa sông đổ ra Biển Đông và gắn với một bến quan trọng của Đường Hồ Chí Minh trên biển. Điều đặc biệt là sau những lần sắp xếp hành chính năm 2025, cả điểm xuất phát Phước Hải lẫn vùng Lộc An cũ ngày nay đều nằm trong cùng xã Phước Hải, Thành phố Hồ Chí Minh.

Long Hải đến Phước Hải – qua Kỳ Vân và Đèo Nước Ngọt
Từ Long Hải đi về phía đông, quãng đường sang Phước Hải không dài nhưng cảnh quan thay đổi khá rõ. Bãi biển dần khép lại khi núi tiến sát mặt nước, Mũi Kỳ Vân nhô ra phía biển và con đường phải uốn theo chân núi qua Đèo Nước Ngọt. Qua khỏi đoạn địa hình ấy, không gian lại mở ra với biển Phước Hải và một làng cá lâu đời dưới chân Minh Đạm. Vì vậy, hành trình Long Hải – Phước Hải không chỉ nối hai địa danh gần nhau; nó đi xuyên qua một đoạn bờ nơi núi, biển, đường sá và cộng đồng cư dân cùng tạo nên hình dáng của vùng đất.

Lễ hội Nghinh Ông Nam Hải – mùa lễ của ngư dân Phước Hải
Mỗi năm vào tháng Hai âm lịch, nhịp sống của làng biển Phước Hải có những ngày khác thường. Chiếc lưới vốn theo ngư dân ra biển bước vào những cuộc thi đan lưới, cột lưới; hình ảnh tôm cá xuất hiện trong đoàn diễn hành; còn những người cao niên của làng thực hiện nghi thức ra biển nghinh đón Ông Nam Hải về Dinh. Đó là Lễ hội Nghinh Ông Nam Hải – mùa lễ hình thành từ tín ngưỡng cá Ông, nhưng phía sau nghi lễ còn là câu chuyện về nghề biển, tiền hiền, cộng đồng và cách một làng cá gìn giữ ký ức của mình qua nhiều thế hệ.

Ngọc Lăng Nam Hải – nơi cá Ông được an táng bên biển Phước Hải
Sát bờ biển Phước Hải có một không gian rất khác với những bãi cát, ghe thuyền và khu dân cư thường thấy của một làng chài. Dưới những hàng dương là những ngôi mộ có bia ghi “Nam Hải chi mộ” – nơi người dân an táng những cá voi được kính gọi là cá Ông khi chúng lụy vào vùng biển này. Đó là Ngọc Lăng Nam Hải, một không gian tín ngưỡng đặc biệt được hình thành từ chính mối quan hệ lâu đời giữa cộng đồng ngư dân Phước Hải với biển.

Aultmore Distillery – Nhà chưng cất whisky giữa vùng Foggie Moss, Speyside, Scotland
Aultmore Distillery là nhà chưng cất Scotch whisky nằm gần thị trấn Keith, thuộc vùng Speyside của Scotland. Được Alexander Edward thành lập và bắt đầu sản xuất năm 1897, Aultmore đã tồn tại hơn 125 năm giữa một khu vực từ lâu gắn với nghề chưng cất whisky.

The Glenrothes Distillery – Nhà chưng cất Speyside từ năm 1879 tại Rothes, Scotland
The Glenrothes Distillery là nhà chưng cất Single Malt Scotch Whisky nằm tại Rothes, Moray, Scotland, ngay trung tâm vùng whisky Speyside. Được thành lập năm 1879, nhà chưng cất trải qua gần 150 năm phát triển và ngày nay là một trong những tên tuổi lâu đời gắn với thị trấn Rothes.

Stirling Distillery – Khi whisky trở lại dưới chân lâu đài Stirling sau hơn 170 năm
Ngay dưới chân Stirling Castle, giữa khu phố cổ mang đậm dấu ấn lịch sử Scotland, một nhà chưng cất nhỏ đang viết tiếp câu chuyện từng bị gián đoạn hơn một thế kỷ. Stirling Distillery không có quy mô lớn, nhưng vị trí, lịch sử và hành trình đưa whisky trở lại thành phố Stirling khiến nơi đây trở thành một điểm đáng chú ý trên bản đồ whisky Scotland.

Kininvie Distillery – Nhà chưng cất Speyside kín tiếng của William Grant & Sons
Kininvie Distillery là nhà chưng cất Single Malt Scotch Whisky nằm tại Dufftown, Moray, Scotland, thuộc vùng whisky Speyside. Được William Grant & Sons xây dựng năm 1990, Kininvie có vị trí đặc biệt khi nằm ngay trong khu vực của The Balvenie Distillery và gần Glenfiddich – hai nhà chưng cất nổi tiếng cùng thuộc tập đoàn gia đình William Grant & Sons.

Auchentoshan Distillery – Nhà chưng cất whisky Lowland hơn 200 năm bên Glasgow, Scotland
Auchentoshan Distillery là nhà chưng cất Scotch whisky nằm tại Clydebank, ở phía tây bắc Glasgow, Scotland. Nhà chưng cất có lịch sử chính thức từ năm 1823 và ngày nay được biết đến đặc biệt với phương pháp chưng cất ba lần – Triple Distillation, tạo nên phong cách nhẹ, tươi và mềm mại đặc trưng của Auchentoshan Single Malt Scotch Whisky.

Một chuyến biển không kết thúc khi ghe trở về bờ. Cá được gỡ khỏi lưới, phân loại và đưa đi tiêu thụ; phần khác tiếp tục bước vào một vòng đời mới qua bàn tay của những người ở lại trên đất liền. Cá được xẻ, ướp rồi phơi dưới nắng. Những mẻ cá khác được trộn với muối và đưa vào thùng ủ để sau nhiều tháng trở thành nước mắm. Từ nhu cầu bảo quản sản vật của biển, người Phước Hải đã hình thành những nghề chế biến gắn với làng cá qua nhiều thế hệ. Nước mắm và hải sản khô vì thế không chỉ là món quà người ta mua khi đến Phước Hải. Đằng sau chúng là một phần lịch sử sinh kế của cộng đồng sống bên biển.

Rời vùng làng biển Phước Hải tiếp tục theo dải ven biển về phía đông, cảnh quan dần thay đổi. Minh Đạm lùi lại phía sau, đường bờ mở rộng hơn và vùng đất phía trước tiến dần về hệ thống sông Ray. Ở cuối hành trình là Lộc An – một địa danh từng là xã ven biển độc lập, có cửa sông đổ ra Biển Đông và gắn với một bến quan trọng của Đường Hồ Chí Minh trên biển. Điều đặc biệt là sau những lần sắp xếp hành chính năm 2025, cả điểm xuất phát Phước Hải lẫn vùng Lộc An cũ ngày nay đều nằm trong cùng xã Phước Hải, Thành phố Hồ Chí Minh.

Từ Long Hải đi về phía đông, quãng đường sang Phước Hải không dài nhưng cảnh quan thay đổi khá rõ. Bãi biển dần khép lại khi núi tiến sát mặt nước, Mũi Kỳ Vân nhô ra phía biển và con đường phải uốn theo chân núi qua Đèo Nước Ngọt. Qua khỏi đoạn địa hình ấy, không gian lại mở ra với biển Phước Hải và một làng cá lâu đời dưới chân Minh Đạm. Vì vậy, hành trình Long Hải – Phước Hải không chỉ nối hai địa danh gần nhau; nó đi xuyên qua một đoạn bờ nơi núi, biển, đường sá và cộng đồng cư dân cùng tạo nên hình dáng của vùng đất.

Mỗi năm vào tháng Hai âm lịch, nhịp sống của làng biển Phước Hải có những ngày khác thường. Chiếc lưới vốn theo ngư dân ra biển bước vào những cuộc thi đan lưới, cột lưới; hình ảnh tôm cá xuất hiện trong đoàn diễn hành; còn những người cao niên của làng thực hiện nghi thức ra biển nghinh đón Ông Nam Hải về Dinh. Đó là Lễ hội Nghinh Ông Nam Hải – mùa lễ hình thành từ tín ngưỡng cá Ông, nhưng phía sau nghi lễ còn là câu chuyện về nghề biển, tiền hiền, cộng đồng và cách một làng cá gìn giữ ký ức của mình qua nhiều thế hệ.

Sát bờ biển Phước Hải có một không gian rất khác với những bãi cát, ghe thuyền và khu dân cư thường thấy của một làng chài. Dưới những hàng dương là những ngôi mộ có bia ghi “Nam Hải chi mộ” – nơi người dân an táng những cá voi được kính gọi là cá Ông khi chúng lụy vào vùng biển này. Đó là Ngọc Lăng Nam Hải, một không gian tín ngưỡng đặc biệt được hình thành từ chính mối quan hệ lâu đời giữa cộng đồng ngư dân Phước Hải với biển.

Ở một làng biển, niềm tin thường bắt đầu từ những điều rất gần với đời sống. Với ngư dân Phước Hải, biển mang lại nguồn sống nhưng cũng là nơi con người phải đối diện với sóng gió và những bất trắc ngoài khơi. Từ trải nghiệm ấy, cá voi được kính gọi là cá Ông, được xem như vị thần hộ mệnh của người đi biển. Dinh Ông Nam Hải là một trong những nơi cộng đồng gửi gắm niềm tin đó, đồng thời là mắt xích quan trọng trong không gian tín ngưỡng nối Dinh Ông, Ngọc Lăng và Lễ hội Nghinh Ông của làng biển Phước Hải.

Trước khi có tên Phước Hải, vùng làng biển dưới chân Minh Đạm từng được biết đến với một cái tên rất gần với nghề nghiệp của cư dân: Lưới Rê. Từ một xóm chài hình thành bên biển, tên Lưới Rê đi qua lớp tên Hải Chữ rồi bước vào Phước Hải thôn vào đầu thế kỷ XIX. Những tên gọi ấy không chỉ cho biết một địa danh đã thay đổi như thế nào. Chúng còn lưu lại dấu vết về quá trình tụ cư, sinh kế và cách một cộng đồng nghề biển từng bước tạo dựng vùng đất mà ngày nay chúng ta gọi là Phước Hải.

Khi trời còn sớm, bờ biển Phước Hải đã bắt đầu một nhịp sống khác với hình ảnh của một vùng nghỉ dưỡng. Ghe thuyền trở về, cá được đưa lên bờ, lưới được gỡ, hải sản được phân loại trước khi đi vào chợ, các cơ sở chế biến hoặc những sân phơi. Nhịp sống ấy đã tồn tại qua nhiều thế hệ và tạo nên Làng chài Phước Hải – một cộng đồng ven biển dưới chân Minh Đạm, nơi lịch sử của vùng đất gắn chặt với nghề đánh bắt, chế biến hải sản và những tín ngưỡng hình thành từ cuộc sống ngoài khơi.

Từ Đèo Nước Ngọt đi về phía đông, đường bờ mở ra sau đoạn núi tiến sát mặt nước ở Kỳ Vân. Phía trước là biển, phía sau vẫn còn đường nền của hệ núi Minh Đạm, còn ở khoảng giữa là một cộng đồng đã sống bằng nghề biển qua nhiều thế hệ. Bãi biển Phước Hải nằm trong chính không gian ấy. Vì vậy, đây không chỉ là một bãi tắm trên tuyến ven biển, mà còn là nơi cảnh quan tự nhiên và đời sống của làng cá Phước Hải gặp nhau mỗi ngày.